Xuất xứ: Kim Quỹ Yếu Lược, Q. Trung.
Tác giả: Trương Trọng Cảnh
Nguồn y văn: 380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm, Kim Quỹ Yếu Lược, Kỳ Hiệu Lương Phương, Trung Hoa Danh Y Phương Tễ Đại Toàn, Trương Trọng Cảnh
Khổ hàn thanh tiết, giáng hỏa, chỉ huyết. Trị chứng tâm khí không đủ, thổ huyết, mũi chảy máu, nóng hãm trong vị, bụng trên tích tụ, ấn tay vào thấy mềm, đi lỵ ra máu đờm.
GIẢI THÍCH: Trong bài này, tuy dùng Đại Hoàng làm chủ dược nhưng mục đích không phải để chuyên về công hạ nhưng để tiết nhiệt, tả hỏa, giải độc. 3 vị Hoàng ở đây, có vị đắng, tính hàn, có thể tiết nhiệt, táo thấp, vì vậy, thích hợp trị các bệnh táo nhiệt ngăn trở ở trường vị, uất mà hóa hỏa, rêu lưỡi vàng nhờn hoặc nổi gai vàng, sốt cao, phiền nhiệt, ngực đầy, ứ trướng, táo bón (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm). Hoàng cầm tả hỏa ở thượng tiêu, Hoàng liên tả hỏa ở trung tiêu, Đại hoàng tả hỏa ở hạ tiêu. Ba vị hoàng đều có vị đắng, tính hàn. đắng thì táo thấp, hàn thì thanh nhiệt (Trung Hoa Danh Y Phương Tễ Đại Toàn). GHI CHÚ: Còn gọi là Tam Hoàng Tả Tâm Thang (Kỳ Hiệu Lương Phương). THAM KHẢO: Bài này tuy lấy tên là Tả Tâm Thang nhưng thực tế không phải chỉ chuyên trị tả tâm hỏa mà tả các loại thực hỏa, giải nhiệt độc, thanh thấp nhiệt. Trong Thương Hàn Luận dùng bài này để tiết nhiệt, trừ đầy trướng là theo ý này. Còn ở sách Kim Quỹ Yếu Lược dùng bài này để tiết nhiệt, trừ đầy trướng là có ý để tả hỏa, tiết nhiệt, giải độc. Tà đi thì chính an, nhiệt độc giải rồi thì huyết ngừng ra, khác với tác dụng lương huyết tán huyết của bài Tê Giác Địa Hoàng Thang. Với các vị thuốc vị đắng tính hàn, trong thực nghiệm chữa bệnh diệt vi khuẩn ở ngoài cơ thể thấy rõ tác dụng diệt khuẩn, kết quả điều trị cho thấy thuốc có tác dụng kháng khuẩn. Bài này thêm Phụ Tử, gọi là Phụ Tử Tả Tâm Thang. Bài này tuy tên là Tả Tâm Thang, nhưng không phải chỉ chuyên tả tâm hỏa mà có thể tả mọi chứng thực hỏa (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm).
Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…