Xuất xứ: Phổ Tế Phương, Q.222.
Tác giả: Chu Tiêu
Bổ thận, tráng dương, ích tinh, dưỡng tủy, hành khí, chỉ thống. Trị vùng rốn và bụng đau, tiểu nhiều, liệt dương.
Cửu tử (tẩm rượu) Nhục thung dung (tẩm rượu) Phá cố chỉ (chưng với ruột dê) Thỏ ty tử (tẩm rượu) Viễn chí (tẩm rượu) Tán bột. Trộn với hồ làm viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 20 viên với rượu ấm, lúc đói.
Lộc nhung, Nhục thung dung, Phá cố chỉ, Thỏ ty tử, Hồ lô ba, Cửu tử bổ thận, tráng dương, ích tinh, dưỡng tủy, làm thuốc chính; Làm thần có Liên tu, Sơn thù, Ngũ vị tử, Sơn dược, Cự thắng tử để bổ thận, ích tinh, cố sáp; Phụ linh, Viễn chí ninh tâm thần hợp với các thuốc bổ thận để làm tâm thận thông với nhau; Dương hư thì hàn sinh, hàn làm cho khí trệ, huyết ngưng, kinh lạc không thông, làm cho bụng bị đau, vì vậy, thêm Mộc hương, Trầm hương, Đàn hương, Đinh hương, Hồi hương, Trần bì là những vị thuốc có mùi thơm để trợ dương, tán hàn, hành khí, giảm đau; Xuyên sơn giáp, Toàn yết thường chạy vào các hốc, hang, có tác dụng hoạt huyết, thông lạc, giảm đau; Xuyên luyện tử hành khí, giảm đau; Mộc thông thông lợi cửu khiếu, huyết mạch (theo sách Bản Kinh); Tri mẫu chuyên tư thận âm. Ba vị phối hợp là những vị thuốc loại hàn lương, ngừa không cho thuốc ôn táo làm tổn thương phần âm; Thanh diêm (muối) dẫn thuốc đi vào thận (Cổ Đại Bổ Thận Tráng Dương Danh Phương).
Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…