Tứ Quân Tử Thang

Xuất xứ: Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương, Q.3.

Tác giả: Trần Sư Văn

Nguồn y văn: 380 Bài Thuốc Hiệu Nghiệm Đông Y, Phương Tễ Học, Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương, Thánh Tế Tổng Lục, Trần Sư Văn

Tác dụng

Kiện tỳ vị, ích khí, hòa trung, trị tỳ vị hư yếu, khí hư bất túc, mệt mỏi rã rời, mặt vàng người gầy, ăn uống giảm sút, đại tiện lệt sệt, mạch mềm yếu, rêu mỏng trắng.

Thành phần (4 vị)

Cách bào chế & sử dụng

Ngày sắc 1 thang chia 2 lần uống.

Ghi chú

GIẢI THÍCH: Nhân sâm bổ khí; Bạch truật kiện tỳ, vận thấp. Hai vị phối hợp làm quân; Phục linh thấm thấp, giúp Bạch truật kiện tỳ, vận thấp; Cam thảo vị ngọt, tính bình, giúp Nhân sâm ích khí, hòa trung. Toàn bài có tác dụng bổ khí mà không trệ, thúc đẩy cơ năng vận hóa của tỳ vị khiến cho việc ăn uống được tăng lên, có lợi cho việc phục hồi sức khoẻ. Bốn vị thuốc trong bài có tính dược bình hòa, có thể dùng lâu ngày mà không gây tác dụng xấu, vì vậy được sách Cục Phương gọi là Tứ Quân Tử Thang (Phương Tễ Học). GHI CHÚ: Cũng gọi là Bạch Truật Thang (Thánh Tế Tổng Lục). Kiện Tỳ Ích Khí Thang (Trung Y Nội Khoa Thượng Hải). Người thể hư, sau khi ốm không điều hòa hoặc bị bịnh lâu mà có chứng nói trên đều dùng được. THAM KHẢO: Bài này dù dùng Nhân sâm, Cam thảo bổ khí, Bạch truật, Phục linh kiện tỳ, phối hợp với nhau là xử lý theo khí hư, tỳ hư có quan hệ mật thiết với nhau, thích hợp đối với người tỳ hư, khí suy. Tuy nhiên, sự vật phát triển thường không quân bình, trong lâm sàng có lúc nặng về khí hư, có lúc nặng về tỳ hư, thêm cả khí trệ, có người thiên về thấp đờm, do đó, lúc dùng bài thuốc này, cần căn cứ bệnh tình nặng nhẹ, hoãn cấp mà chú trọng kiện tỳ hoặc chú trọng về bổ khí mới trị đúng bệnh, mới có hiệu quả cao. Bài thuốc có 4 (Tứ) vị, dược tính bình hòa, có thể dùng lâu ngày không gây hại, vì vậy gọi là Tứ Quân Tử Thang. Bổ khí và kiện Tỳ, trong cách trị và dùng thuốc của YHCT, tuy có sự phân biệt nhất định như dùng Sâm + Kỳ để bổ khí, Truật + Linh để kiện Tỳ, nhưng khí hư và Tỳ hư thường có quan hệ mật thiết với nhau, thường là nhân quả của nhau, vì vậy, trong 2 cách trị bổ khí và kiện Tỳ thường dùng phối hợp với nhau. Do Tỳ Vị là gốc của hậu thiên, cơ năng vận hóa của Tỳ Vị là nguồn sinh hóa khí huyết của con nggười, cho nên nếu giỏi trị khí hư thường bắt đầu kiện Tỳ trước. Đồng thời do vận hóa của Tỳ Vị không điều hòa, không nghiền kỹ được thủy cốc thật tinh vi, vì vậy lúc trị Tỳ Vị hư nhược phải có thuốc bổ khí giúp thêm mới giúp Tỳ Vị vận hóa được. Sâm Kỳ thường được dùng, lúc cần, thêm Phụ + Quế để ôn vận Tỳ Dương. Bài này dùng Nhân Sâm, Cam Thảo bổ khí, Bạch Truật, Phục Linh kiện Tỳ, phối hợp nhau là xử lý theo khí hư, Tỳ hư có quan hệ mật thiết với nhau, thích hợp cho người Tỳ hư, khí nhược. Tuy nhiên, vì sự vật phát triển thường không quân bình trong lâm sàng, có lúc thiên về khí hư, có lúc thiên về Tỳ hư, thêm cả khí trệ, có người thiên về thấp đờm, vì vậy, lúc dùng bài thuốc này, nên dựa vào bệnh tình nặng nhẹ, hoãn cấp mà chú trọng kiện Tỳ hoặc bổ khí mới trị đúng bệnh để đạt được hiệu quả tốt. Bài này thêm Trần Bì gọi là Dị Công Tán. Bài này thêm Trần bì + Bán hạ gọi là Lục Quân Tử Thang. Bài này thêm Hoàng kỳ + Sơn dược gọi là Lục Quân Tử Tiễn. Bài này thêm Trần bì + Bán hạ + Mộc hương, Sa nhân gọi là Hương Sa Lục Quân Tử Thang. Bài này thêm Trần bì + Bán hạ + Bạch thược + Đương quy gọi là Quy Thược Lục Quân Tử Thang. Bài này thêm Trần bì + Bán hạ + Ô mai + Thảo quả gọi là Tứ Thú Ẩm. Bài này thêm Biển đậu + Hoài sơn, Liên nhục, Cát cánh, Ý dĩ, Sa nhân gọi là Sâm Linh Bạch Truật Tán. Bài này thêm Biển Đậu, Hoàng Kỳ, Sinh Khương, Đại Táo gọi là Lục Thần Tán. Bài này thêm Cát Căn, Hoắc Hương, Mộc Hương gọi là Thất Vị Bạch Truật Tán. Bài này thêm Trần bì + Bán hạ + Sài hồ + Cát căn + Hoàng cầm + Bạch thược gọi là Thập Toàn Nhân Sâm Tán. (380 Bài Thuốc Hiệu Nghiệm Đông Y).

Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…