Hải Mã

Tên Hán: 海馬 · Pinyin: Hǎi Mǎ · Tên khoa học: Hippocampus Sp. · Họ khoa học: Cá Chìa Vôi (Syngnatidae). · Bộ phận dùng: cả con · Xuất xứ: Bản Thảo Thập Di

Tính: Ôn · Vị: Cam, Hàm · Quy kinh: Túc Quyết Âm Can, Túc Thiếu Âm Thận

Mô tả

MÔ TẢ:

Thuộc nước mặn, cũng có ở nước ngọt, đầu giống hình đầu con ngựa. Thân dài chừng 15–20cm có khi tới 30cm, màu trắng vàng hoặc hơi xanh đen. Đuôi cá ngựa khá dài, gồm nhiều đốt đuôi cuộn vào và duỗi ra rất linh hoạt, đuôi luôn luôn hoạt động như bánh lái. Quá trình sinh sản của chúng hết sức đặc biệt. Mùa xuân là mùa sinh sản của Cá ngựa, lúc này ở con đực có một lớp lông dày mọc ra từ hai bên thân, lớp lông chụm lại ở phần bụng, tạo nên một cái túi trước bụng gọi là túi ấp. Cá ngựa cái sẽ đẻ trứng vào cái túi ấp đó và từ thân cá đực sẽ tiết ra một chất nhầy bao bọc lấy trứng làm thức ăn cho cá con khi mới nở (con cái không có túi ấp, như thế mới là kỳ). Số lượng trứng mỗi lần đẻ tới hàng trăm hạt, trứng được phát triển trong túi ấp cho tới khi nở ra những con cá ngựa con. Cá con sống yên ổn trong túi cho đến khi lớn lên, biết tự kiếm sống mới bơi ra ngoài sống tự lập. Trong điều kiện đấu tranh sinh tồn, chỉ con cá đực khỏe mạnh nhanh nhẹn hơn mới mới giữ gìn được đàn con và bầu trứng. Đặc điểm đó dần dần được hoàn thiện, cho tới nay ta chỉ thấy con đực làm công việc nuôi con mà thôi con cái sau khi đẻ trứng thì hoàn toàn không biết gì về đàn con của mình nữa.

Ở Việt Nam có nhiều loài: Cá Ngựa Gai (Hippocampus histris Kaup), Cá Ngựa Lớn (Hippocampus kuda Bleeker), Cá Ngựa Kenlo (Hippocampus kelloggi Jordan et Snyder), Cá Ngựa Chấm (Hippocampus trimaculatus Leach), Cá Ngựa Nhật (Hippocampus japonicus Kaup).

PHÂN BIỆT:

Cá ngựa có nhiều loài, như Hippocampus Trimaculatus, Hippocampus Antiquorum, Hippocampus Gutalantus, Giống Phulopteryx có nhiều tua dài mảnh trên mình, khiến cá dễ lẫn mình trong đám rong bể.

Con Long lạc tử (Hippocampus coronatus T. Et S), Hắc hải mã (Hipp0campus aterrimus T. Et S) và Bắc hải mã (Hippocampus japonicus Kaup) là những con Hải mã đã được xác định tên khoa học hiện nay. Thường được dùng làm thuốc gần như nhau.

Thành phần hoá học

Loại Cá ngựa chấm (Tam ban hải mã) có Glutamic acid, Aspartic acid, Glycine, Proline, Alaine, Leucine, Ca, P, Na, K, Mg, Fe, Si, Stearic acid, Cholesterol, Cholesterdiol (Hoàng Bình, Hải Dương Dược Vật, 1982, (4): 32).

Loài Cá ngựa gai (Thích Hải mã) có: Protein, Sắt, Gamma carotene, Astaxanthin, Astacene, Melanin (Trung Quốc Dược Dụng Động Vật Chí (Thiên Tân), 1983: 234).

Tính vị quy kinh (y văn)

TÍNH VỊ:

Tính ấm, bình, không độc (Bản Thảo Thập Di).

Vị mặn, tính ôn, bình, không độc (Phẩm Nghĩa Tinh Yếu).

Vị ngọt, tính ôn, bình, không độc (Bản Thảo Cương Mục).

Vị ngọt, hơi mặn. Tính ấm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Vị ngọt, tính ấm (Trung Dược Đại Từ Điển).

QUY KINH:

Vào kinh Thận, mệnh môn (Bản Thảo Tân Biên).

Vào kinh túc Thiếu âm [Thận], túc Quyết âm [Can] (Bản Thảo Nhiếp Yếu).

Vào kinh Thận (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Vào kinh Can, Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).

Chủ trị (y văn)

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

Trị phụ nữ khó sinh (Bản Thảo Thập Di).

Trị khó sinh và đau do khí huyết (Bản Thảo Đồ Kinh).

Điều khí, hòa huyết (Phẩm Nghĩa Tinh Yếu).

Noãn thủy tạng, tráng dương đạo, tiêu tích khối. Trị mụn nhọt độc (Bản Thảo Cương Mục).

Tráng dương, mạnh sinh lý. Kích thích sự giao hợp, kéo dài thời gian giao hợp, thần kinh yếu, phụ nữ khi sinh mệt yếu, thai ra khó, chậm có con.(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Bổ Thận, tráng dương, điều khí, hoạt huyết, trị liệt dương, di tinh, hư suyễn, khó sinh, mụn nhọt độc, trưng hà (Trung Dược Đại Từ Điển).

Ôn thông mạch Nhâm, trị suyễn cấp và mạn tính (Dược Tài Học).

LIỀU LƯỢNG:

3–9g, dùng dạng bột hoặc viên.

KIÊNG KỴ:

Dễ sẩy thai (Bản Thảo Tân Biên).

Phụ nữ có thai, âm hư hỏa vượng: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

Nuôi trồng

ĐỊA LÝ:

Cá ngựa sống ở dọc bờ biển Việt Nam và Trung Quốc.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Cả con.

THU BẮT:

Khai thác nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hải Nam (Trung Quốc), Nha Trang..., quanh năm đều có cá Ngựa, nhiều nhất vào tháng 8–9, người ta thường thu bắt Cá ngựa lẫn lộn với khi đánh cá, chứ không tổ chức bắt riêng cá Ngựa. Bắt được phơi khô cất dùng.

TÊN GỌI:

Loài cá ở biển có đầu giống ngựa nên gọi là Hải mã hay Cá ngựa.

Bào chế

CHẾ BIẾN:

Rửa sạch, bỏ ruột, uốn đuôi cho cong rồi phơi khô. Chọn những con to nhỏ bằng nhau rồi buộc từng hai con một coi như một cặp (con đực và cái).

BÀO CHẾ:

Mổ bỏ nội tạng, phơi hay sấy khô, khi dùng tẩm rượu, sao qua tán nhỏ. Thường dùng dạng hoàn tán, có thể ngâm rượu với các thuốc khác (như Dâm dương hoắc, Câu kỷ tử) để uống.

Đơn thuốc tham khảo

Trị liệt dương, phụ nữ chậm có con: Hải mã sấy khô tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g, với rượu ấm (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

Trị Thận dương suy, tiểu đêm, phụ nữ bạch đới nhiều do cơ thể suy nhược: Hải mã 12g, Câu kỷ tử 12g, Bong bóng cá 12g, Hồng táo 30g. Sắc uống (Hải Mã Thang – Trung Dược Lâm Sàng Ứng Dụng).

Trị khí suyễn: Hải mã 3g, Đương quy 6g (hoặc chỉ dùng Hải mã sấy vàng), uống với nước (Thanh Đảo Trung Thảo Dược Thủ Sách).

Trị phụ nữ khó sinh: nên mang nó ở người, rất hay, khi sinh sấy tán bột uống đồng thời trong tay cầm Hải mã thì rất dễ sinh (Kinh Nghiệm Phương).

Trị thận hư, tinh thiếu, mệnh môn hỏa suy, sinh dục suy nhược: Hải mã 10g, Hồng sâm 10g, Lộc nhung 10g, Nhục quế (bỏ vỏ thô) 3g. Tán bột, uống ngày 16-20g (Hải Lộc Tán – Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng).

Tham khảo

Dùng Hải mã một cặp, một con đực một con cái, tính của nó ấm áp, có ý nghĩa của sự giao cảm, nên khi khó sinh và dương hư, những phương thuật trong buồng the là hay dùng tới nó, giống như công dụng của Cáp giới, Lang quân tử. Tôm cũng có tác dụng tráng dương (Bản Thảo Cương Mục).

Bài thuốc có dùng vị này (5)

Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…