Hy Thiêm Thảo

Tên Hán: 豨莶草 · Pinyin: Xī Xiān Cǎo · Tên khoa học: Siegesbeckia orientalis Lin. (Siegesbeckia gluinosa Wa. Minyrathes heterophyla Turcz). · Họ khoa học: Cúc (Asterraceae). · Bộ phận dùng: toàn cây · Xuất xứ: Tân Tu Bản Thảo.

Tính: Hàn · Vị: Khổ · Quy kinh: Túc Quyết Âm Can, Túc Thiếu Âm Thận

Mô tả

Cây thảo sống hàng năm, cao 30–60cm, cành có lông. Lá mọc đối, hình quả trám, có khi tam giác hay hình thoi mũi mác, dài 4–10cm, rộng 3–6cm, cuống ngắn, đầu là nhọn, phiến lá men theo cuống lá, mép có răng cưa không đều, 3 gân chính mảnh, mặt dưới hơi có lông. Cụm hoa hình ngù có lá, đầu màu vàng. Lá bắc ngoài 5, mặt trong có lông, mặt ngoài có tuyến. Các lá bắc trong có tuyến ở lưng. Hoa ở phía ngoài của đầu là 5 hoa cái hình lưỡi. Các hoa khác lưỡng tính, hình ống. Bầu hình trứng ngược có 4–5 góc. Quả bế cũng 4–5, góc nhẵn, đen hạt. Ra hoa tháng 4–5 đến 8–9. Mùa quả tháng 6–10.

Thành phần hoá học

Glucose Hy thiêm (Darutoside), Ancaloid (Trung Dược Học).

Darutigeol, Darutoside, Neodarutoside (Chung Tường Anh, Dược Học Học Báo 1984, 24 (11): 833).

16–acetylkirenol, Isopropylidenekinerol (Liu K và cộng sự, Planta Med 1991, 57 (4): 395).

Dược lý

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ:

Thuốc có tác dụng kháng viêm, giãn mạch, hạ huyết áp, ức chế miễn dịch (Trung Dược Học).

ĐỘC TÍNH:

Dịch Hy thiêm thảo chích vào ổ bụng chuột nhắt thấy liều LD50 là 45,54–1,44g/kg (Thy Lâm, Quảng Tây Trung Y Dược 1990, 13 (4): 44).

Tính vị quy kinh (y văn)

TÍNH VỊ:

Vị đắng, hơi cay, tính hàn, có ít độc (Bản Kinh Phùng Nguyên).

Vị đắng, Tính lạnh. Có độc ít (Trung Dược Học).

QUY KINH:

Vào kinh Tâm, Tỳ (Bản Thảo Tái Tân).

Vào 2 kinh, Can, Thận (Trung Dược Học).

Chủ trị (y văn)

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

Trị Can Thận phong khí, chân tay tê, đau trong xương, lưng gối mỏi, kèm chủ phong thấp, sang dương, cơ nhục tê khó khỏi (Đồ Kinh Bản Thảo).

Khu phong, trừ thấp kèm hoạt huyết (Bản Thảo Kinh Sơ).

Khu phong thấp, lợi gân cốt, giảm đau, đồng thời có tác dụng giảm độc, an thần, hạ huyết. Trị phong thấp, Can dương vượng, mất ngủ, Dùng đắp ngoài trị rắn cắn (Trung Dược Học).

LIỀU LƯỢNG:

9–12g.

KIÊNG KỴ:

Không có phong thấp mà thuộc âm hư thì cấm dùng. Kỵ Sắt (Trung Dược Học).

Nuôi trồng

ĐỊA LÝ:

Hy thiêm thuộc loại cây thảo, thường mọc ở những nơi đất tương đối ẩm và màu mỡ, trên các nương rẫy, bờ bãi ven đường, bãi sông trong thu lũng. Cây sinh trưởng, phát triển mạnh về mùa hè xuân và thường tàn lụi vào mùa thu đông. Do chất dính ở lá bắc, cho nên quả Hy thiêm có khả năng phát tán nhờ động vật và con người. Ngoài ra, Hy thiêm còn có khả năng tự phát tán hạt giống ra xung quanh nhờ gió mưa.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Hạt Hy thiêm nảy mầm vào mùa xuân. Hy thiêm được thu hái trước khi cây có hoa mọc hoặc lúc cây bắt đầu ra hoa. Hái về phơi khô bó thành từng bó nhỏ phơi khô cất dùng.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Toàn cây (Herba Siegesbeckiae).

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

Thân khô biểu hiện màu nâu tro hoặc nâu đen, hình ống tròn, ở giữa bộng, có đường nhăn, vùng đốt phình lớn, nhánh mọc đối, lá nhăn teo màu nâu đen, có lông màu trắng như nhung.

Bào chế

BÀO CHẾ:

Hễ dùng Hy thiêm thảo cần phải dùng phép uống riêng một vị Hy thiêm như người nước Thục, cứ ngày mùng 5 tháng 5 hay mùng 6 tháng 6, hoặc ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch chỉ hái lá, còn rễ cành hoa bỏ hết, rửa sạch phơi khô, cho vào trong một cái chõ, đặt lên từng lớp, cứ mỗi lớp rưới một lần rượu và mật, chưng lên rồi lấy ra phơi, cứ chưng rồi phơi làm như vậy cho được 9 lần thì khí vị thơm ngon. Khi khô hẳn đem ra tán nhỏ hoàn với mật mà uống. Bệnh ở tay chân tê, đau xương, mỏi lưng, mỏi gối bởi phong thấp ở ngoài, thì nên dùng sống không nên dùng chín. Bệnh do Can Thận hư, âm huyết kém thì không nên dùng sống, phải dùng cửu chế mới được, nếu để khô, mỗi ngày uống 50–60 viên, với Rượu nhạt hoặc nước muối lúc đói.

Theo Trung Y: Hái lấy cành nhỏ và lá phơi khô, nửa tẩm rượu nửa tẩm mật trộn lẫn với nhau. Đồ chín rồi phơi (làm chín lần).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, thái khúc 2 – 3 cm, phơi khô, cứ 1kg dược liệu tẩm với 100g rượu hòa với 50g, chưng lên rồi lại tẩm phơi (9 lần). Sao vàng.

Sau khi bào chế như trên, có thể nấu thành cao đặc 1 ml = 10g dược liệu hoặc tán bột làm hoàn.

BẢO QUẢN:

Dễ hút ẩm, mốc, mục, mọt, vì vậy phải để nơi khô ráo, thường xuyên phơi.

Đơn thuốc tham khảo

Trị các chứng tiêu chảy do cảm phải phong hàn, dùng trị phong khí chạy vào trường và gây tiêu chảy: Hy thiêm thảo tán bột, trộn hồ dấm làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn, mỗi lần uống 30 viên với nước (Hy thiêm hoàn – Thánh Tế Tổng Lục).

Trị ung nhọt sưng độc, các chứng lở loét nhiều: Hy thiêm thảo 30g (Hái vào Tết Đoan ngọ), Nhũ hương 30g, Bạch phàn (phi) 15g, Tán bột, mỗi lần uống 6g với Rượu nóng cho tới khi khỏi (Càn Khôn Bí Uẩn Phương).

Trị đinh nhọt sưng độc: vào tết Đoan ngọ hái Hy thiêm thảo, phơi khô, tán bột, mỗi lần uống 15g với Rượu nóng, khi mồ hôi ra là đạt, rất có hiệu quả (Tập Giản Phương).

Trị ăn vào là mửa ra: Hy thiêm thảo sấy khô, tán bột, luyện mật làm viên, uống với nước nóng (Bách Nhất Tuyển Phương).

Trị phong thấp: Hy thiêm thảo 1kg, Thiên niên kiện 360g, Đường và Rượu 1 lít, nấu thành cao, ngày uống 2 lần, lần một ly nhỏ trước khi ăn trưa tối (Kinh nghiệm phương).

Trị phong thấp, tê mỏi, đau nhức xương: dùng cao mềm Hy thiêm 270g, bột Hy thiêm 300g, bột Thiên niên kiện 90g, bột Xuyên khung 60g. Trộn lại làm viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4–5 viên, uống cách xa bữa ăn (Hy thiêm thảo – Kinh Nghiệm Phương).

Trị miệng méo, mắt lệch, phong thấp đau nhức: Hy thiêm thảo (sống) 120g, tán bột, chưng, phơi 9 lần, luyện mật làm viên, mỗi lần uống 6g, ngày 3 lần với Rượu nóng (Kinh Nghiệm Phương).

Trị phong thấp viêm đa khớp dạng thấp: Hy thiêm thảo 120g, sắc, thêm đường đen, cô lại thành cao, mỗi lần uống 1 chén trà nhỏ, ngày 2 lần uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị miệng méo, mắt trợn, cấm khẩu không nói được, thường sùi bọt mép, uống lâu có thể sáng mắt rõ tai, đen nhánh râu tóc và cứng mạch gân cốt: Ngày mùng 5 tháng 5 lấy lá và cành non cây Hy thiêm rửa sạch, phơi, hong khô được 9 lần, sao khô, tán nhỏ, làm viên với mật, to bằng hạt Ngô đồng, mỗi lần uống 40 viên với nước cơm hoặc rượu nóng (Hy Thiêm Hoàn – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị đinh nhọt, phát bối: Hy thiêm thảo, Ngũ diệp thảo (tức Ngũ trảo long), Dã hồng hoa (tức Tiểu kế), Đại toán, lượng bằng nhau, giã nát, vắt lấy nước uống, khi ra mồ hôi là đạt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị đau đầu cảm mạo: Hy thiêm thảo 9g, Lục nguyệt sương 15g, Tử tô 9g, Thông bạch 6g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị viêm khớp do phong thấp, tê tay, tê chân, đau nhức gân xương: Hy thiêm thảo, Bạch mao đằng đều 9g, Xú ngô đồng hoặc (Ngưu tất) 15g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị xuất huyết ngoại thương, đinh nhọt sưng tất, rắn cắn: Hy thiêm thảo (tươi) liều lượng tùy ý, rửa sạch, giã nát, đắp nơi đau (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị huyết áp cao: Hy thiêm thảo, Hòe hoa đều 15g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị viêm khớp, viêm đa khớp: Hy thiêm thảo 100g, Đương quy 30g. Sắc uống – Có kết quả tốt (Chu Lương Xuân, Thượng Hải Trung Y Dược Tạp Chí 1982, 9: 33).

Tham khảo

Những người bị sốt rét cơn lâu ngày lấy Hy thiêm thảo giã lấy nước mà uống cho nôn ra là khỏi, những người bị Cọp cắn, Chó cắn, Nhện cắn...giã nát Hy thiêm thảo mà đắp vào đều khỏi cả (Bản Thảo Thập Di).

Hy thiêm vị đắng tính lạnh vào can trị chủ về phong khí tê mỏi, đau xương, mỏi gối và phong thấp lở ra. Trong sách có nói rằng Hy thiêm để sống thì hàn mà hông chín thì ấm là đúng, nếu nói để sống thì tả mà hông chín thỉ bổ có lẽ là không đúng, bởi rằng tính của nó đã khô thì có lẽ nào hông lên là bổ ích được, chẳng qua nó trị khỏi được phong thì chính khí vượng lại tức là bổ, chứ bản tính của nó có gì là bổ đâu (Bản Thảo Đồ Giải).

Hy thiêm vị đắng mà cay, tính hàn không ấm, cho nên trong sách bảo phải hông và phơi làm như thế cho được 9 lần, lại thêm Rượu và Mật vào để chế thì biến mất mùi hôi, thành ra mùi thơm, hễ những chứng phong thấp ở Can và Thận rồi sinh ra tay chân tê mỏi, gân xương đau nhức và sinh ra ghẻ lở, đều dùng được cả. Vì rằng vị đắng thì táo được thấp, tính hàn thì trừ được nhiệt, và vị cay thì tán được phong, nếu không phải phong thấp mà sinh ra những chứng như trên, thì lại thuốc về bệnh huyết hư, vì thuốc này tân tán không thể dùng được, vả lại dùng chín còn khá, không đến nỗi thương phạt tới chính khí, nếu dùng sống không chế uống vào sẽ sinh ra ỉa chảy ngay. Cứ ngày mùng 5 tháng 5, mồng 6 tháng 6, mùng 7 tháng 7, mồng 8 tháng 8, mồng 9 tháng 9 đi lấy dùng rất tốt (Bản Thảo Cầu Chân).

Cây Hy thiêm có mùi hôi như mùi của Lợn nên gọi là Hy, Hy là con Lợn, nên có tên là Hy cao mẫu cũng nghĩa như thế. Vậy tôi xét ra vị này để sống thì mùi hôi khô sáp, nếu uống nhiều thì hay nôn, vì tính nó vẫn hàn mà mà khí mãnh liệt rất hay chạy bốc khai tiết, cho nên trị được chứng phiền nhiệt ung độc và thổ nôn ra được nghịch đàm, đến lúc đã dầm rượu và mật hông phơi 9 lần và làm hoàn với mật nữa thì khí vị nó ôn hòa, thông lợi được cơ quan, điều hòa được huyết mạch, cho nên những chứng tê mỏi thuộc về phong làm thấp nhiệt thì uống vào là có hiệu quả ngay, thật là một vị thuốc hay ở trong loài cỏ tầm thường (Trương Sơn Lôi).

Lại có một tờ biểu nữa gởi dâng vua của quan Tri Châu tên là Trương Vĩnh, dâng Thuốc hoàn Hy thiêm rằng “Đá với nước mà thay xong cơm bữa, cỏ với cây mà trị khỏi người đau, ấy cho nên ăn khỏi đói, không kỳ đồ ăn ngon, trị khỏi bệnh không cần sống thì khí lạnh, đem chưng chín thì khí ấm (Bản Thảo Tái Tân).

Hy thiêm thảo vị cay đắng, khí lạnh, nên phải chế nó chín lần đồ chín lần phơi, lại phải tẩm rượu và mật, thì những trọc khí của bệnh đắng lạnh mới hết, và mới có được mùi thanh hương, nếu không thế thì chưa hết chất âm trọc, tất nhiên không thể thấu đến gân xương, và không trừ được phong khí (Bản Thảo Hối Biên).

Hy thiêm thảo cảm khí Thiếu dương để sinh, mắt và lá của nó đối nhau. Tháng 5, 6, 9 âm lịch, hái về, lấy nước ấm rửa sạch đất, ngắt lấy lá, hoa, quả đầu cành, thấm vào mật và rượu 9 lần, chưng 9 lần, phơi, không cần khô lắm, chỉ cần chưng cho đủ số là được, rồi trộn đều, giã, luyện với mật làm viên, to bằng hạt Ngô đồng. Chuyên trị trúng phong, miệng méo, mắt lệch. Buổi sáng uống với rượu ấm, lúc đói. Uống đến 400 viên thì khỏi được hoàn toàn, đến 500 viên thì tinh lực thêm gấp bội, rất bổ nguyên khí. Thành Nột đời nhà Đường và Trương Vĩnh đời nhà Tống đều làm biểu dâng lên triều đình, trình bày hết về công hiệu của Hy thiêm thảo (Dược Phẩm Vậng Yếu).

Bài thuốc kinh nghiệm trị bệnh than hoán (liệt trái gọi than, liệt phải gọi hoán) dùng bài thuốc Cửu Chế Hy Thiêm, dùng 10 cây Hy thiêm rửa sạch, phơi trong râm cho khô, tán bột, trộn với mật và rượu, bỏ vào chưng, dùng 180g Song bạch, 180g Xuyên ô, xắt nhỏ để lên trên thuốc rồi chưng khoảng cháy hết cây nhang, lấy ra phơi cho gần khô, lần thứ 2 dùng 180g Sinh khương, 180g Thảo ô (bỏ vỏ nhọn) xắt nhỏ, bỏ lên trên thuốc chưng như lần trước, lần thứ 3 dùng 180g Uy linh tiên, 180g Thương truật (chế nước vo gạo) thái nhỏ, bỏ lên trên thuốc lại hông như lần trước, lần thứ 4 dùng 180g Khương hoạt, 180g Độc hoạt, thái nhỏ, rửa, bỏ lên trên thuốc chưng như lần trước, lần thứ 5 dùng 180g Ngũ gia bì, 180g Ý dĩ nhân thái nhỏ bỏ lên trên thuốc, lại chưng như lần trước, lần thứ 6 dùng 180g Ngưu tất, 180g Cát cánh làm như lần trước, lần thứ 7 dùng 180g Sinh địa, 180g Đương quy cũng làm như mấy lần trước, lần thứ 8 dùng 180g Phòng phong, 180g Tục đoạn cũng làm như mấy lần trước, lần thứ 9 dùng 180g Thiên môn, 180g Thạch hộc cũng làm như trước. Nấu xong 9 lần rồi chế mật bỏ vào cối giã cho nhuyễn, hoàn viên bằng hạt Ngô, phơi khô. Mỗi lần uống 10 viên. Thần nhận thấy đây là phép trị lạ, miễn có thuốc hay cứu vớt, dám đưa vật mọn trình bày, quản chi kiến thức hẹp hòi, mong được thánh minh soi xét. Số là kẻ hạ thần này, nhân lúc tới nhà của Long Hưng đào được 1 cái bia, thấy trong bia có nói về phép dưỡng khí và bài thuốc uống, kẻ hạ thần theo bài thuốc uống, kẻ hạ thần theo bài thuốc ấy sai người đi hỏi thăm tìm kiếm đi lấy cho bằng được thứ cỏ Hy thiêm này, theo phép chế hoàn, hạ thần thấy uống đến đâu thấy kiến hiệu tới đó, uống được 100 viên thì thấy sáng mắt rõ tai, uống đến 100 viên thì thấy đen râu láng tóc, gân xương mỗi ngày 1 khỏe, hiệu nghiệm càng thấy được nhiều. Ở hạ châu, kẻ hạ thần có quan Đô Áp La Thủ Nhất, nhân bị trúng phong, câm không nói được, kẻ hạ thần cho uống 10 viên thì bệnh thấy khỏe hẳn. Lại có cụ Hòa thượng Trí Nghiêm, đã 70 tuổi bị cảm phong, trợn mắt méo miệng, thường sùi bọt miếng ra, kẻ hạ thần cho uống 10 viên thì bệnh được khỏi ngay. Vậy nay kẻ hạ thần hợp lại được 100 tể, sai người chức cống tên là Sử Nguyên dâng lên bệ thánh” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Quan tiết độc ở phủ Giang Lăng tên gọi là Thành Nội, có làm bài biểu dâng thuốc Hy thiêm lên nhà vua rằng: “Hạ thần có người em tên là Nghiêm, năm 21 tuổi bị chứng phong nằm không dậy được, đến 5 năm, thuốc nào trị cũng không khỏi, có một đạo nhân tên là Chung Châm vào thăm bệnh rồi bảo phải uống Hy Thiêm Hoàn mới khỏi, Hy thiêm là một giống cỏ thường sinh vào chỗ ẩm ướt...(sao chế như trên) mỗi khi đói bụng uống vào với rượu nóng hoặc là nước cơm 30 viên. Theo lời chỉ dẫn, kiên trì uống tới 200 viên, thấy bệnh lại tăng hơn, nhưng vẫn cứ tin tưởng uống tiếp không ngại ngùng, sở dĩ bệnh tăng là vì bước đầu sức thuốc kích thích. Uống đến 4000 hoàn thì bệnh quả nhiên khỏi, uống đến 5000 hoàn thì sức lực thấy khỏe khoắn hơn thêm. Kẻ hạ thần thật lấy làm mừng, thấy được sự hiệu quả như là không sai”. Nhà vua duyệt xong tờ biểu, liền sắc cho y viên biên rõ và khảo cứu thêm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Lưu Nhược Kim nói rằng: “Khi tôi 80 tuổi thường uống thuốc tễ bổ âm ích dược,vẫn cũng có công hiệu, nhưng đại tiện thường táo, tiểu tiện thường đỏ, sau chế thêm bài thuốc hoàn Hy thiêm uống chung, trị được 1 tháng thì có công hiệu hơn tễ thuốc trước nhiều, khi ấy đại tiện không táo, tiểu tiện không đỏ nữa, ngày xưa thánh hiền có nói “Hy thiêm chế cho đúng phép thì rất ích cho khí huyết, bệnh tê bại tay chân uống vào rất công hiệu. Những bài thuốc ngày xưa Dũ Phong Thang, Tử Bách Đơn, nhiều vị thuốc tân tán, bệnh loại trúng phong dùng không thích hợp, còn bệnh bán thân bất toại đã lâu rồi, uống thuốc bổ khí bổ huyết hóa đàm cũng nên thường uống bài Hy thiêm hoàn nữa, uống Hy thiêm rất hay như thế thì Hy thiêm trị được chứng bán thân bất toại và miệng méo mắt xếch mà thôi, còn bệnh trúng phong hôn mê thì không dùng được (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Cỏ này người ta tặng cho cái tên là Cỏ thần, nó có tính chất kích thích làm cho ra mồ hôi, trị được chứng cước khí. Ở Tahiti, người ta dùng nó để trị thương tích đau chân, sai gân, ghẻ lở, và cả điều kinh nữa. Trong thuốc Âu mỹ thấy dùng nó trong thuốc bổ, thuốc khớp, thuốc Giang mai (Đông Dương Dược Vật).

Bài thuốc có dùng vị này (19)

Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…