Lộc Giác

Tên Hán: 鹿角 · Pinyin: Lù Jiǎo · Tên khoa học: Gạc Hươu nai. · Họ khoa học: Cornu Cervi · Bộ phận dùng: sừng hươu nai · Xuất xứ: Bản Kinh

Tính: Ôn · Vị: Hàm · Quy kinh: Túc Quyết Âm Can, Túc Thiếu Âm Thận

Thành phần hoá học

Trong gạc hươu nai có khoảng 25% chất keo (keratin) 50–60% canxi photphát, canxi cacbonat, một ít chật đạm và ít nước. Trong lộc giác sương tỷ lệ chất keo mất hẳn hoặc còn rất ít (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

Threonine, Aspartic acid, Serine, Glutamic acid, Proline, Glycine, Alanine, Valine, Leucine, Isoleucine, Phenylalanine, Lysine, Histidine, Arginine (Vương Tỉnh Trúc, Trung Dược Tài 1990, 13 (10): 13).

Gạc có chất keo 25%, calci phosphat 30 – 60%, calci cacbonat 1%, chất đạm nước v.v... Cao ban long có keratin thủy phân cho nhiều acid amin (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Tính vị quy kinh (y văn)

TÍNH VỊ:

Tính ôn (Bản kinh).

Vị mặn, tính hơi ôn, không độc (Biệt Lục).

Vị đắng, cay (Trân Châu Nang Bổ Di Dược Tính Phú).

Vị mặn, tính ôn (Trung Hoa Bản Thảo).

QUY KINH:

Vào kinh thủ Thiếu dương Tam tiêu, túc Thiếu âm Thận, phần huyết (Đắc Phối Bản Thảo).

Vào kinh Thận, kèm vào Tâm, Can (Yếu Dược Phân Tể).

Chủ trị (y văn)

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

Chủ nhọt độc, ung nhọt, trục tà ác khí, lưu huyết ở âm trung (Bản Kinh).

Trừ bụng dưới đau do huyết cấp, lưng cột sống đau, té ngã gây ra ác huyết, ích khí (Biệt Lục).

Dùng sống có tác dụng tán nhiệt, hành huyết, tiêu thũng, tịch tà, dùng chín có tác dụng ích Thận, bổ hư, cường tinh, hoạt huyết (Bản Thảo Cương Mục).

Trị mụn nhọt, ung thũng, nhiệt độc, thoát tinh, tiểu ra máu, hay mơ, nga khẩu sang, trẻ nhỏ lưỡi cứng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

Trước đây ở châu Âu cũng có dùng sừng hươu nai làm thuốc, nhưng sau vì hiếm, khó tìm và có những vị khác thay thế được cho nên không dùng nữa.

Tác dụng chính của Lộc giác là cao Ban long.

KIÊNG KỴ:

Không có ứ huyết đình trệ: không dùng. Dương thịnh âm hư: kỵ dùng. Răng đau do Vị có hỏa: không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

Mệnh môn hỏa thịnh, mụn nhọt độc, phải dùng phép lương: không được dùng (Đắc Phối Bản Thảo).

Âm hư hỏa vượng không dùng (Trung Hoa Bản Thảo).

Người có bệnh hư hàn thì không nên dùng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Đỗ trọng làm sứ cho nó (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

LIỀU DÙNG:

Cho vào thang thuốc 5–10g.

Dạng thuốc bột: 3g

Cắt thành từng miếng nhỏ để nhai hay ngậm hoặc có thể hòa với rượu hay ăn cháo đường.

Có thể hòa cao Ban long (1 phần) vào nước sắc Long nhãn (5 phần) để uống vào lúc sáng sớm và tối trước khi đi ngủ (Lãn Ông). Các cụ già nên dùng chung với mật ong trước khi đi ngủ.

Nuôi trồng

NGUỒN GỐC:

Gạc hươu nai là nhung để già, cứng lên thành gạc hay sừng (xem mô tả con vật ở vị Lộc nhung). Hàng năm vào cuối hạ, hươu nai cọ đầu vào cây cho sừng rụng. Trong gạc hươu nai, huyết đã khô kiệt, có khi còn da bọc, có khi hết cả da, chi còn trơ gạc sáng bóng, màu vàng hay hơi đỏ hoặc trắng ngà. Phần dưới to có nhiều u nhỏ tròn nổi lên, phần trên nhẵn và nhọn.

Có người thường căn cứ vào số nhánh và kích thước, màu sắc để phân biệt gạc hươu với gạc nai, gạc hươu có 3 hoặc 4 nhánh, dài 30–50cm, đường kính chừng 3cm, chất mịn và rắn, cứng chắc u tròn cách nhau, màu gạc đỏ nâu. Gạc nai cũng giống gạc hươu nhưng thường to và dài hơn: đường kính chừng 3–6cm, dài 50–60cm, chia 3–6 nhánh, màu tro nâu hoặc tro vàng, u không rõ, thường chạy dài.

Cả 2 loại, khi bẻ, vết bẻ màu trắng, giữa có màu tro, tủy hẹp. Nếu tủy rộng là gạc nhẹ, xấu.

PHÂN LOẠI GẠC:

Gạc lấy ở những con hươu nai săn bắn được hoặc do đến mùa nó tự rụng, vào các tháng 6 tháng 8 người ta vào rừng để nhặt.

Gạc lấy ở những con hươu nai còn sống được coi là tốt hơn: có còn liền với xương đầu, thường gọi là gạc bao bì liên tảng (còn cả da và xương đầu) hay không còn da đầu nhưng gạc dính cả xương đầu gọi là gạc liên táng.

Gạc tự rụng, nhặt ở rừng về thuộc loại kém. Trong loại gạc này, người ta thường phân biệt ra: gạc còn phần đế dài, màu gạc trắng ngà được coi như đứng đầu trong loại gạc tự rụng, sau đó đến loại gạc tự rụng nhưng không còn đế, đế lõm vào màu sắc trắng nhọt là loại kém.

Khi dùng gạc, người ta thường cưa thành từng khúc ngắn, tẩm với mật sao vàng, tán nhỏ. Có khi người ta cưa thành khúc ngắn, dùng than đốt qua, tán nhỏ mới dùng.

Từ lộc giác có thể chế thành cao Ban long và Lộc giác sương.

Cao ban long: Xem vị cao ban long.

Lộc giác sương: Cornu cervu degelatinarum. Có hai loại Lộc giác sương.

Lộc giác sương theo lối Nhật Bản Sừng hươu nai đốt cho đen (hoặc thiêu) rồi tán nhỏ.

Lộc giác sương của Trung Quốc và Việt Nam là sừng hươu còn lại sau khi đã nấu cao ban long rồi phơi khô tán nhỏ. Loại này có khi người ta vẫn đổ bỏ đi hay để bón cây.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Gạc (sừng) hươu nai.

Bào chế

CÁCH BÀO CHẾ CAO BAN LONG:

Thường một lần nấu trên 30kg gạc thì được độ 7,5kg cao Ban long. Nấu cao Ban long có 3 giai đoạn: làm sạch, tẩm nấu và cô.

1. Làm sạch: cứ 10 gạc thì dùng 0,200kg phèn chua đổ ngập nước, đun sôi độ 1/2 giờ (để dễ cạo cái đen bên ngoài). Lấy ra dùng bàn chải sắt thép cứng hay cái nạo, cạo kỹ cho hết cái đen. Nếu không cạo kỹ thì sau này cao đen không trong và có người cũng cho nó là nguyên nhân cao bị cháy. Rửa, phơi khô, rồi đem cưa từng khúc như khẩu mía độ 5 – 6 cm, chẻ nhỏ làm 2 – 3 mảnh. Chỗ nào có tủy đen thì cần bỏ đi vì đó là nơi vi khuẩn đã phát sinh. Có người kỹ hơn cạo hết cả tủy (dù vàng hay đen), vì cho là có mỡ làm cho sau này cao bị chảy. Phơi cho khô.

2. Tẩm nấu: cứ 10 gạc đã chẻ nhỏ, tẩm với 1 kg gừng tươi giã nhỏ, để độ 2 giờ rồi sấy khô để nấu cao. Cho gạc vào thùng men hoặc khạp là tốt nhất, xung quanh cái lồng rỗng ở giữa để múc nước cốt ra, đổ ngập nước trên 10cm, đun sôi. Suốt thời gian nấu, lửa phải đều và liên tục. Cứ 2 ngày một đêm thì lấy ra một nước. Bên cạnh có thùng nước sôi, cạn đến đâu thì tiếp vào cho đủ mức nước cũ. Có người khuyên nên dùng nước mưa, nước cất thì bảo đảm hơn, vì nước giếng, nước sông có nhiều khoáng chất có thể là nguyên nhân làm cao bị chảy. Khi nấu thấy nổi bọt thì vớt ra, nếu không, sau này cũng là nguyên nhân làm cao có thể bị chảy. Nấu liên tiếp ba nước, khi định lấy ra một nước, thì để cạn cho còn 1/2 mới lấy ra. Lọc qua hai lần vải đặt trong một cái rây thưa (có người dùng trấu đã rửa, luộc kỹ để lọc) vào một cái chậu men, rồi Can h ở 50° – 60°C cho khỏi thiu và chờ nước sau để cùng cô. Riêng nước thứ ba, sau khi lọc rồi để lắng đứng, chỉ lấy nước trong ở trên, bỏ cặn, trộn ba nước làm một để cô chung.

3- Cô cao: khi bắt đầu cô chung thì dùng lửa nhỏ (70 -80°C) trực tiếp. Khi cao gần đặc rồi, cô bằng cách thủy hoặc trên cát, nhiệt độ phải hạ dần 60 đến 40°C. Lúc này phải đánh mạnh, liền tay, đều tay nếu không cao sẽ bị cháy, khê và nước còn lại có thể bị chảy. Khi lấy dao rạch sâu xuống miếng cao, hai mép không khép lại được nữa là được. Đổ lên khay có khuôn đã bôi mỡ, dầu cho khỏi dính. Lấy vải ấm đậy lên, để một đêm hôm sau lấy ra từng miếng 100g hay 50g (tùy theo khuôn) treo lên phơi âm Can chỗ thoáng gió cho đến khô rồi gói vào giấy bóng kín.

Ghi chú:

Mạt cưa gạc: có thể cho riêng vào túi vải cùng nấu với gạc trong thùng.

Nấu xong nước thử ba, miếng gạc bóp thấy dễ bở tơi là nấu đúng mức, không cần phải nấu lấy nước thứ tư có nhiều chất bột làm cao nặng và mặn, kém tác dụng và cũng là nguyên nhân làm cao bị chảy.

Cao ban long khác các cao khác ở chỗ kéo thành tơ ở hai đầu ngón tay mà không dứt được.

BẢO QUẢN:

để nơi thoáng gió, mùa hè nên lót vôi sống dưới đáy thùng và đậy kín.

Đơn thuốc tham khảo

Trị tự nhiên đau lưng, không thể cúi ngửa được: Lộc giác 1 đoạn khoảng 6 thốn, nướng, tán bột, uống với rượu (Trửu Hậu Phương).

Trị xương hư yếu quá, mặt sưng, xám đen, cột sống lưng đau không thể đứng lâu được, khí suy làm cho răng rụng, cột sống thắt lưng đau, chỉ thích nằm: Lộc giác 60g, Ngưu tất, tẩm rượu, sấy, 45g. Tán bột, trộn với mật làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 70 viên với nước muối, lúc đói (Lộc Giác Hoàn – Tế Sinh Phương).

Trị thận suy, bị khí lạnh làm tổn thương, khí lạnh xâm nhập vào Thận gây nên đau lưng như muốn gẫy: Lộc giác tiêm 30g (nướng dấm), Phụ tử (bào) 60g, Quế tâm 0,9g. Tán bột, trộn với mật làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với rượu và muối, lúc đói (Lộc Giác Hoàn - Tam Nhân Phương).

Tham khảo

Hươu còn gọi là Lộc (Cervus axis Exl) và nai còn gọi là Mê (Cervus unicolor Cuv), là những con vật chân có móng đơn, họ Ugulata, sống từng bầy trong rừng, hươu và nai đực mới có sừng. Hươu bé hơn nai ba bốn lần, mình có sao trắng (cũng có thứ không có sao), sừng già lên bốn nhánh mỗi bên; hươu nuôi bé hơn hươu rừng.

Nai mình không có sao, sừng già chỉ lên có 3 nhánh, ít nuôi vì hay phá. Nai già còn gọi là chả râu. Hàng năm vào cuối mùa hạ, hươu hay nai cọ đầu vào cây làm cho sừng rụng. Gạc tức là sừng, chỉ là xương không còn lông da. Gạc hươu hay nai thì nghiêng có 4 hay 3 chi ở một bên nhánh; mỗi bộ nặng trên 5 kg, còn tươi chẻ ra thấy vàng ngà, không đen, thường lấy ở hươu nai săn bắn được tốt hơn thứ bị rụng. Nhưng trái lại cũng có người lại cho sừng mới rụng có nhiều khí lực nên tốt hơn. Gạc bị nứt, dập đen thì độc vì cho đó là hươu nai bị hổ cắn, nhưng thật ra thì khó phân biệt là hổ cắn hay bị va chạm mà nứt.

Gạc nai Mông Cổ thì đứng thẳng, mỗi chiếc nặng trên 7 kg, có 7 chi mỗi bên nhánh, gạc này nấu thì được cao vàng.

Dùng để nấu cao, người ta cần phân biệt gạc hươu hay nai, thường nấu bằng gạc nai hơn vì dễ mua, rẻ tiền, tuy nhiên gạc hươu thì vẫn quý hơn.

Gạc chia làm mấy loại tốt xấu thứ tự như sau:

1. Bao bì: là thứ gạc còn da, lông, chóp sờ thấy mềm, đồ lên còn thái được.

2. Liên tảng: là gạc còn xương trán nối hai nhánh với nhau.

3. Gạc có đế lồi ra: chứng tỏ sừng mới rụng.

4. Gạc có đế lõm vào: là thứ xấu, không dùng.

5. Gạc xốp, gẫy, dập: là thứ xấu, không dùng.

Bài thuốc có dùng vị này (19)

Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…