Lục Phàn

Tên Hán: 綠礬 · Pinyin: Lǜ Fán · Tên khoa học: Ferri Sulfas · Bộ phận dùng: khoáng vật · Xuất xứ: Nhật Hoa Tử Bản Thảo

Tính: Lương · Vị: Toan, Sáp · Quy kinh: Túc Quyết Âm Can, Túc Thái Âm Tỳ

Mô tả

Là kết tinh dạng lăng trụ hoặc viên, hạt, nửa trong suốt. Có mầu xanh lục không giống nhau. Chất tương đối cứng nhưng dòn, không mùi hôi, vị sáp mà ngọt. Loại mầu lục, không tạp chất là loại tốt. Dễ dung hòa với nước, không dung hòa với cồn. Ở môi trường khô ráo thì phong hóa, ở môi trường ẩm ướt thì bị oxy hóa ngay, mặt ngoài mọc lên mầu vàng của sắt Ferric sulfat. Nung đỏ thì phân giải, phóng ra Sulfurous acid khan đọng lại.

Thành phần hoá học

FeSO4,7H20.

Tính vị quy kinh (y văn)

TÍNH VỊ:

Tính mát, không độc (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

Vị chua, tính hàn, không độc (Phẩm Hối Tinh Nghĩa).

Vị chua mà sáp, tính mát, có độc (Bản Thảo Tái Tân).

Vị chua, sáp, tính mát (Trung Dược Đại Từ Điển).

QUY KINH:

Vào kinh thủ Thái âm Phế, thủ Dương minh Đại trường (Ngọc Thu Dược Giải).

Vào kinh Tỳ, Can (Bản Thảo Cầu Chân).

Chủ trị (y văn)

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

Trị chứng cam và các chứng lở ngứa (Đường Bản Thảo).

Trị họng sưng đau (hầu tý), răng xiết, miệng lở loét, trộn với cá Gáy (Tức ngư), đốt thành tro, uống trị tiêu ra máu (trường phong hạ huyết) (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

Tiêu thủy thũng, hoàng đản, trẻ nhỏ bị cam tích, móng tay chân sưng đau chảy nước (Y Học Nhập Môn).

Tiêu tích trệ, táo Tỳ thấp, hóa đờm diên (dãi), trừ trướng mãn, sưng do hoàng đản, sốt rét, phong nhãn, các bệnh về miệng, răng (Bản Thảo Cương Mục).

Dùng với liều ít có tác dụng bổ huyết, dùng trong trường hợp thiếu máu, da vàng ủng. Trị tiêu ra máu (vị trường xuất huyết) phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng với lượng lớn trong bài thuốc gây nôn. Dùng ngoài, đốt ra tro, trị kết mạc viêm (đau mắt đỏ cấp), bạch tiên bì (sừng hóa da), trái rạ (mụn nước), hôi nách. Thuốc này dùng trong các chứng lở loét chảy nước thấy có tác dụng thu liễm (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

Táo thấp, hóa đờm, tiêu tích, sát trùng, chỉ huyết, bổ huyết, giải độc, liễm sang. Trị hoàng thũng, trướng mãn, cam tích, lỵ lâu ngày, tiêu ra máu (trường phong hạ huyết), huyết hư, da vàng ủng, ngứa da, họng sưng đau, mắt toét (Trung Dược Đại Từ Điển).

LIỀU DÙNG:

Uống trong, cho vào thuốc hoàn, từ 1,5–3g. Dùng ngoài để rắc, bôi hoặc trộn với dung dịch đắp vào vết thương (Trung Dược Đại Từ Điển).

KIÊNG KỴ:

Uống với lượng nhiều có thể bị nôn mửa, đau bụng. Dạ dày yếu không nên uống (Trung Dược Đại Từ Điển).

Kỵ Dấm (Bản Thảo Cương Mục).

Người bị tiêu chảy, bao tử yếu, không được dùng nhiều (Bản Thảo Kinh Sơ).

Bào chế

BÀO CHẾ:

Lấy Lục phàn đập nát, thêm Dấm gạo (cứ 100 cân Lục phàn dùng 20 cân Dấm gạo), cho vào chảo, rang cho đến khi thấy Lục phàn sùi bông lên, đó là lúc Lục phàn đang thăng hoa, để lửa nhỏ, dùng đũa tre quấy đều cho đến khi thành tro, bắc xuống, để nguội, cất để dành dùng dần (Trung Dược Học).

BẢO QUẢN:

Cất kín để phòng biến sắc hoặc bị ẩm.

Đơn thuốc tham khảo

Trị hoàng thũng: Ngũ bội tử 1/2 cân (sao đen), Lục phàn 120g (sao với nước cốt Gừng cho đến khi thấy mầu trắng), Châm sa 120 (sao với Dấm cho đến khi đỏ lên), Thần khúc 1/2 cân (sao hơi vàng). Tán nhuyễn, lấy nước cốt Gừng chưng với nhục của Táo (Tầu) trộn với thuốc bột, làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 60–70 viên với rượu ấm, không uống được rượu thì uống với nước cơm. Uống thuốc này kỵ ăn lúa kiều mạch, nếu không, bệnh tái phát không trị được (Lục Phàn Hoàn – Y Học Chính Truyền).

Trị chứng thực lao hoàng, thân thể và mắt đều vàng: Thanh phàn, giã nát, trộn với Dấm gạo và nhục Táo làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 20–30 viên, uống với nước sắc Gừng (Cấp Cứu Phương).

Trị trẻ nhỏ bị bệnh cam mà có trùng: Lục phàn, tán nhuyễn, trộn với mật heo, làm thành viên, to bằng hột đậu xanh.. Mỗi lần uống 5–7 viên với nước cơm, bất kể lúc nào cũng được (Lục Phàn Hoàn – Tiểu Nhi Vệ Sinh Tổng Vi Luận Phương).

Trị phụ nữ bị huyết trắng (xích bạch đới hạ) nhiều năm không khỏi: Lục phàn 30g (sao cho đỏ), Ô tặc cốt (nướng vàng) 30g, tán nhuyễn, trộn với nước cơm làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn, uống 15 viên với rượu ấm, trước bữa ăn (Lục Phàn Hoàn –Thái Bình Thánh Huệ Phương).

Trị tai lở loét: Quả Táo (tầu), bỏ hột, bọc lấy Lục phàn, nghiền nát, trộn với dầu (mè), bôi (Trích Nguyên Phương).

Trị lở loét: Lục phàn, Hoa tiêu, đều 1 văn, Băng phiến, Chương não đều 7 văn. Tán bột. Trứng gà 1 trái, đập một lỗ, bỏ lòng đỏ, chỉ lấy lòng trắng, cho thuốc bột vào, nung cho thành tro, trộn với dầu (mè) bôi (Lương Phương Hối Lục).

Trị lưỡi bỗng nhiên sưng cứng, đó là do khí tuyệt, gọi là chứng ‘Bạch Nuy Thiệt’: Lục phàn (nhiều ít tùy dùng), nung cho đỏ, tán nhuyễn, sát vào lợi răng và trên lưỡi (Lục Y Tán – Giáng Nang Tập Yếu).

Trị bỏng nước sôi: Tạo phàn, hòa với nước rửa, đau sẽ hết, sưng đỏ sẽ tiêu (Dương Thành Kinh Nghiệm Phương).

Trị hôi nách: Lục phàn, nửa để sống, nửa nướng, tán nhuyễn., thêm ít Khinh phấn. Trộn với nước cốt Gừng bôi, thấy nóng rát 10 phần là khỏi (Nhân Trai Trực Chỉ Phương).

Trị chứng hầu phong (họng sưng) làm nghẹt họng: Tạo phàn 1 cân, Dấm gạo 3 cân, tán nhuyễn, lấy một ít thổi vào họng cho chảy nước miếng ra. Dùng Gừng tươi, cho vào nước trà, ngậm vào miệng (Tôn Thiên Nhân Tập Nghiệm Phương).

Bài thuốc có dùng vị này (12)

Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…