Tên Hán: 佛手 · Pinyin: Fó Shǒu · Tên khoa học: Citrus medica L var. Sarcodactylis Swingle. · Họ khoa học: Cam quít (Rutaceae). · Bộ phận dùng: quả · Xuất xứ: Trấn Nam bản thảo
Tính: Ôn · Vị: Tân, Khổ, Toan · Quy kinh: Túc Quyết Âm Can, Túc Thái Âm Tỳ, Túc Dương Minh Vị, Thủ Thái Âm Phế
Cây cao, có gai ngắn, cứng, lá hình bầu dục. Cánh hoa ở trên mầu trắng, bên dưới mầu đỏ, quả có lá noãn rời gần đến tận gốc, cong phía trên, giống như bàn tay. Có hoa vào mùa hè.
Citropten, Limetin, 6,7 dimethoxycoumarin), 3, 5, 8–trihydroxy–4', 7–dimethoxyflavone, limonin, nomillin, daucosterol, Bêta sitosterol, p-hydroxy phenylproenoic acid, palmitic acid, succinic acid (Hà Hải Âm, Trung dược thông báo 1983, 13 (6): 352).
Cis–head–to–tail–limettin dimer, Cis–head–to–head–limettin dimer (Hà Hải Âm, Hữu cơ hóa học 1987, (3): 193).
TÍNH VỊ:
Vị ngọt hơi cay, tính ấm (Điền Nam bản thảo).
Vị cay, chua, không độc (Bản thảo cương mục).
Vị cay, đắng, ngọt, không độc (Bản kinh phùng nguyên).
Vị cay, đắng, tính ấm (Trung dược học).
Vị đắng, cay, tính ôn (Đông dược học thiết yếu).
QUY KINH:
Vào kinh Can, Tỳ, Vị và Phế (Trung dược học).
Vào kinh Can, Vị, Tỳ, Phế (Trung dược đại từ điển).
Vào kinh Can, Tỳ (Đông dược học thiết yếu).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
Bổ Can, ôn Vị, chỉ thổ, tiêu đờm lạnh ở dạ dày, hòa trung, hành khí, giảm đau ở mặt (Điền Nam bản thảo).
Nấu rượu uống: trị đờm khí, ho. Sắc uống trị vùng dưới tim đau (Bản thảo cương mục).
Điều hòa Can khí, khoan thông hung cách, hóa đờm, tiêu thực. Can khí uất kết: đau và cảm giác tức ngực: Dùng Phật thủ với Hương phụ, Hương duyên và Uất kim. (Trung Dược Học).
Lý khí, hóa đờm. Trị dạ dày đau, hông sườn đầy chướng, nôn mửa, nấc, đờm ẩm, ho suyễn, giải rượu (Trung dược đại từ điển).
Điều hòa Can khí, khoan thông hung cách, hóa đờm, tiêu thực. Trị ngực đầy, dạ dày đầy chướng, ợ hơi, ho do đờm khí ngưng kết, ăn uống kém do Can Vị bất hòa (Đông dược học thiết yếu).
KIÊNG KỴ:
Dùng độc vị hoặc dùng với lượng nhiều có thể gây tổn thương chính khí (Đông dược học thiết yếu).
LIỀU DÙNG:
3–10g.
ĐỊA LÝ:
Trồng nhiều nơi.
BỘ PHẬN DÙNG:
Quả chín.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Hái vào tháng 10 và 12 cắt thành lát và phơi nắng.
. Rửa sạch, thái phiến để dùng (Đông dược học thiết yếu).
Trị đờm khí, ho: Phật thủ 6–9g, sắc uống (Vân Nam bản thảo).
Trị bụng đầy trướng, đau dạ dày, kém ăn, đau thắt lưng, buồn nôn và nôn: Dùng Phật thủ với Mộc hương và Chỉ xác (Trung dược học).
Trị đau ngực và ho có nhiều đờm: Dùng Phật thủ với Tỳ bà diệp, và Hạnh nhân (Trung dược học).
Phật thủ chuyên công về mặt lý khí, làm thông hoành cách mô, người bị Can Tỳ khí trệ nên dùng (Bản thảo tiện độc).
Quả Phật thủ có hình dáng giống bàn tay có ngón của người, vỏ dầy như quả cam, quả bưởi, khi còn xanh thì mầu lục, chín thì mầu vàng, mùi thơm mát, thái phiến cho vào thuốc lý khí khoan trung, khí thông đờm hóa, trung tiêu điều hòa thì tiêu hóa được kích thích tốt. Chế với đường, mật, nấu thành mứt hoa quả để ăn (Đông dược học thiết yếu).
Phật thủ và Hương duyên đều là thuốc lý khí, khoan trung, dùng trị về khí. Phật thủ thiên về trị khí của Can Vị bất hòa, khí hoành nghịch ở trung tiêu. Hương duyên bì thiên về trị khí của Phế Tỳ thông khoan thông, khí uất kết ở thượng tiêu (Đông dược học thiết yếu).
Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…