Đại Hãm Hung Thang

Xuất xứ: Thương Hàn Luận.

Tác giả: Trương Trọng Cảnh

Tác dụng

Trị chứng thương hàn xổ lầm gây ra chứng kết hung (bụng trên và dưới cứng đầy, đau).

Thành phần (4 vị)

Ghi chú

GIẢI THÍCH: Cam Toại là vị thuốc có tác dụng tả hạ, tả thủy, trục ẩm. Đại Hoàng + Mang Tiêu trừ nhiệt tà, hỗ trợ cho tác dụng trục thủy của Cam Toại. Các vị phối hợp có tác dụng tả nhiệt, trục thủy (380 Bài Thuốc Hiệu Nghiệm Đông Y). THAM KHẢO: Bài Đại Hãm Hung Thang và Đại Thừa Khí Thang đều có tác dụng hàn hạ rất mạnh, cả 2 bài đều dùng vị Đại Hoàng và Mang Tiêu nhưng tác dụng có khác nhau, vì vậy, cách phối ngũ cũng khác nhau. Vưu Tài Kinh nhận định: Đại Hãm Hung Thang và Đại Thừa Khí Thang dùng để trị chứng tâm hạ và vị trung, có phân chia rõ ràng. Trương Trọng Cảnh nói: Tâm hạ chính là Vị, sở dĩ gọi là Vị đó cũng chính là đại và tiểu trường. Vị là nơi tập trung, là cái túi đựng nước, nếu thanh trọc bất phân thì tà khí sẽ xâm nhập. Vì vậy, trọc khí dễ kết ở ngực, đại tiểu trường là tinh hoa đã mất đi, nhưng chất cặn bã còn thì tà khí có điều kiện xâm nhập, chất trọc đục kết thành phân khô mà thôi. Bài Đại Thừa Khí Thang là thuốc chủ yếu trị trong ruột có phân khô. Bài Đại Hãm Hung Thang chủ yếu trị thủy thực ở tâm hạ. Táo kết ở đại trường phải dùng sức mạnh để trục ra, vì vậy phải dùng Hậu phác + Chỉ thực. Thủy thực ở Vị, phải dùng phép phá ẩm, vì thế, phải có Cam Toại. Bài Đại Thừa Khí khi nấu, cho Chỉ Thực và Hậu Phác vào trước, sau đó mới cho Đại Hoàng vào sau. Bài Đại Hãm Hung Thang phải nấu Đại Hoàng trước, các vị kia nấu sau. Cách nấu trên là cách chữa hoãn, còn cách chữa dưới là cách chữa cấp vì Đại Hoàng dùng sống thì đi nhanh, đun chín thì đi chậm (380 Bài Thuốc Hiệu Nghiệm Đông Y).

Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…