Tên Hán: 甘遂 · Pinyin: Gān Suì · Tên khoa học: Radix Euphorbiae Kansui · Họ khoa học: Thầu Dầu (Euphorbiaceae). · Bộ phận dùng: rễ · Xuất xứ: Bản Kinh
Tính: Hàn · Vị: Khổ · Quy kinh: Thủ Thái Âm Phế, Túc Thiếu Âm Thận, Thủ Dương Minh Đại Trường
Nhóm dược lý: Tuấn Hạ Trục Thuỷ
Cây thảo sống đa niên, có độc. Thân cao hơn 0,3m, gốc rễ màu hơi hồng tím, lá dài hình viên chùy, mép nguyên, mọc đôi, lá dưới cuống hoa tương đối lớn, nở hoa đầu mùa hè màu nâu tím.
Euphornin (Liễu Điền Xương Nhất, Dược Học Tạp Chí (Nhật Bản) 1943, 63 (8): 408).
Gamma Euphorbol, Euphol, Euphadienol, Alpha Euphol, Alpha Euphorbol, Euphorbadienol, Euphorbol (Thốn Thượng Tín Tam – Dược Học Tạp Chí (Nhật Bản) 1955, 75 (9): 1169).
20–Deoxyingenol, 20–Deoxyingenol–3–benzoate, 20–Deoxyingenol–5–benzoate, Ingenol-3- (2,4-decadienoate)-20–acetate, 13–Oxyingenol (Uemura D và cộng sự, Tetra Lett, 1975, (21): 1697, 1701).
TÍNH VỊ:
Vị đắng, tính hàn (Bản Kinh).
Vị ngọt, rất lạnh, có độc (Biệt Lục).
Thuần dương (Thang Dịch Bản Thảo).
Vị đắng, tính lạnh, có độc (Trung Dược Học).
QUY KINH:
Vào kinh Vị, Tỳ, Bàng quang, Đại trường, Tiểu trường (Bản Thảo Tân Biên).
Vào kinh túc Thiếu âm [Thận], vào phần khí (Đắc Hiệu Bản Thảo).
Vào kinh Tỳ, Vị, Phế, Thận, Bàng quang (Bản Thảo Cầu Chân).
Vào kinh Phế, Tỳ, Thận (Trung Dược Học).
TÁC DỤNG:
Tả Thận kinh và trục đạo thủy thấp (Bản Thảo Cương Mục).
Thông lợi đại tiểu tiện, bài tiết thủy thấp, trục ẩm, đồng thời có tác dụng giải độc tán kết (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tả mạnh thủy ẩm ở kinh mạch, tả thủy mạnh (Đông Dược Học Thiết Yếu).
CHỦ TRỊ:
Trị cước khí, âm nang sưng trệ, đờm mê tâm khiếu, điên cuồng, bỉ cách (Bản Thảo Cương Mục).
Trị phù thũng, đàm ẩm, nước tích ở xoang ngực, bụng. Dùng ngoài để trị thấp nhiệt sưng độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
LIỀU DÙNG:
Dùng từ 1,5–3g. Tán bột mỗi lần uống 1–2g. Thuốc hơi khó sắc, chỉ nên tán bột uống. Dùng ngoài tùy ý.
KIÊNG KỴ:
Vị này hạ rất mạnh, có độc, người suy nhược cần thận trọng. Người có thai kỵ dùng (Trung Dược Học).
Ghét Viễn chí, phản Cam thảo (Bản Thảo Kinh Sơ).
Qua đế làm sứ cho nó (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
CÁCH DÙNG:
Cam toại thường chế với dấm (sao) để giảm độc tính của nó, tác dụng cũng tương đối hòa hoãn hơn. Phần nhiều trộn làm thuốc viên.
ĐỊA LÝ:
Ít thấy ở Việt Nam, còn phải nhập.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Củ rễ.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Chọn rễ vào tháng 2, tháng 8, phơi trong râm cho khô.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Rễ khô Cam toại hình thoi dạng chuỗi liền, xoắn không đều, dài khoảng 3,2–6cm, hai đầu nhỏ hơn, chính giữa phình lớn, vỏ ngoài màu vàng trắng hoặc màu trắng bẩn, nhiều nhất là nơi lõm vào, chỉ nhân ngang ít hơn, chất nhẹ dòn, chính giữa mặt cắt ngang có chất xơ dính liền, mặt cắt chất bột màu trắng gần tâm có tổ chức một vòng dạng xơ thể hiện màu vàng trắng. Loại to, ít xơ, nhiều bột trắng ngà, không có mọt là tốt.
BÀO CHẾ:
Lấy rễ giã nát nhỏ dùng nước Cam thảo ngâm 3 ngày, khi ấy nước thành đen như mực, xong vớt ra ngâm vào nước chảy. Rửa đãi 3–7 lần cho đến khi nước trong thì thôi. Sao dòn dùng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Luận).
Lấy bột bọc Cam toại nướng chín cho bớt chất độc rồi dùng (Bản Thảo Cương Mục).
Lấy rễ ngâm nước trong vòng 3 giờ, vớt ra cạo sạch vỏ ngoài, xắt mỏng, sao với Cám, tỷ lệ cứ 1 phần Cam toại một phần Cám bằng nhau, cho tới khi vàng dòn. Có thể tán bột (Có người ngâm với nước Cam thảo và Tề ni rồi mới làm như trên) (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Lấy Cam đã rẩy qua nước cho ẩm, bọc lấy Cam toại đã rửa sạch, xong đốt cho cháy cám ở ngoài (Trung Dược Đại Từ Điển).
BẢO QUẢN:
Dễ sâu mọt, để trong thùng có lót vôi sống, đậy thật kín.
Trị dưới tim như có cảm giác nước đọng đầy cứng, mạch Phục, bệnh nhân đi cầu là dễ chịu: Cam toại củ lớn 3 củ, Bán hạ 12 củ, sắc với một thăng nước còn phân nửa, bỏ vào 5 củ Thược dược với 2 bát nước, sắc lại còn nửa thăng, bỏ bã, trộn với nửa cân mật ong sắc còn 8 phân uống (Cam toại bán hạ thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
Trị thủy kết hung hiếp, đầy tức ngực, bón, mạch chứng đều thuộc nhiệt, các loại động kinh có đàm nhớt ủng thịnh: Cam toại 1,5g, Đại hoàng 9g, Mang tiêu 9g, sắc uống (Đại hãm hung thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
Trị cơ thể sưng phù: Cam toại 6g, dùng thịt thăn của heo đực (Yêu tử), cắt làm 7 miếng, bỏ bột Cam toại vào lấy giấy ướt bao ngoài nướng chín ngày ăn một miếng, liên tục 4–5 ngày khi nào nghe sôi bụng, lợi tiểu là có hiệu quả (Trửu Hậu Phương).
Trị đại tiểu tiện không thông: dùng bột Cam toại, bột miến sống trộn dẻo đều, đắp vào giữa rốn, đơn điền rồi cứu 3 tráng, bên trong uống Cam thảo thang, khi nào thông thì thôi. Lại dùng Cam toại 30g, trộn với mật, chia làm 4 lần, ngày uống 1 lần thì thông (Thánh Huệ Phương).
Trị phù thũng, thở gấp: Cam toại, Đại kích mỗi thứ 30g, sao lửa cho kỹ, tán bột, mỗi lần dùng nửa thìa cà phê (2g), hòa với nửa chén nước sôi, uống (Thánh Tế Tổng Lục).
Trị bí tiểu, tức tối khó chịu: bột Cam toại 4g uống với Trư linh thang thì thông (Bút Phong Tạp Hứng).
Trị phù thũng, bụng căng đầy: Cam toại (sao) 6g, Hắc khiên ngưu 45g, tán bột, sắc, uống từng hớp (Phổ Tế Phương).
Trị trẻ nhỏ bị chứng cam thủy: Cam toại (sao), Thanh quất bì, 2 vị bằng nhau, tán bột, 3 tuổi dùng 3g, uống với Mạch nha thang, gọi là Thủy bảo tán. Khi nào đi tiêu được là thôi. Cữ thức ăn chua, mặn trong 3,5 ngày (Tổng Vi Luận).
Trị phù thũng, thở gấp, đại tiểu tiện không thông: Cam toại, Đại kích, Nguyên hoa, các vị bằng nhau tán bột, lấy Táo nhục giã nát, trộn thuốc bột làm thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 40 viên với Tâm thần nhiệt thang, khi nào đi ra nước vàng là thôi, nếu chưa thì trưa hôm sau uống tiếp (Thập táo hoàn - Tam Nhân Phương).
Trị có thai bị phù to, thở gấp, bụng dưới đầy, tiểu không thông, đã dùng Trư Linh Tán nhưng không bớt, dùng Cam toại 60g, giã nát, trộn mật làm viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 50 viên. Hễ đi tiêu được là tốt, nhưng phải uống Trư linh tán, nếu không đi được, lại uống tiếp (Tiểu Phẩm Phương).
Trị cước khí sưng đau, phong khí xâm nhập thận khí, hạ bộ ngứa: Cam toại 15g, Mộc miết tử nhân 4 cái, tán bột, thăn thịt heo 1 cái, bỏ màng da, xắt lát để dùng. Mỗi lần dùng 12g thuốc, bỏ vào trong thịt, lấy dấm thấm ướt, nướng chín, ăn lúc đói với nước cơm, đi đại tiện xong phải ăn cháo trắng 2–3 ngày là có hiệu quả (Bản Sự Phương).
Trị sán khí, sa dịch hoàn: Cam toại, Hồi hương, lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống 6g (Nho Môn Sự Thân).
Trị nghẹn, nấc cụt: Cam toại trộn với miến nướng 15g, Nam mộc hương 3g, tán bột, người khỏe, mỗi lần uống 3g, người yếu uống 1,5g với rượu (Quái Bệnh Phương).
Trị tức ngực, sốt, ra mồ hôi trộm, đau nhức vùng vai lưng: Cam toại bao với miến nấu với nước tương thật sôi, bỏ miến đi rồi lấy Cam toại sao vàng. Tán bột, người lớn dùng 9g, trẻ em dùng 3g uống với mật khi ngủ. Cữ dầu béo, thịt cá (Phổ Tế Phương).
Trị tiêu khát, hay khát nước: Cam toại (sao cám) 15g, Hoàng liên 30g, tán bột, nấu làm bánh bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 2 viên với nước Bạc hà. Kỵ Cam thảo (Dương Thị Gia Tàng).
Trị phong đàm làm mê tâm khiếu, động kinh, đàn bà phong tà ở tâm huyết: Cam toại 60g, tán bột, bỏ thuốc vào tim heo bao giấy lại, nướng chín, thêm 3g Thần sa, chia làm 4 viên, mỗi lần uống một viên với nước sắc Tâm Tiễn Thang, đại tiện ra những vật độc là có hiệu quả, không nên uống tiếp (Toại tâm đơn – Tế Sinh Phương).
Trị mã tỳ phong: Cam toại bao với miến sắc 4,35g, Thần sa (thủy phi) 7,5g, Khinh phấn 1/4 muỗng cà phê. Mỗi lần uống nửa muỗng cà phê, 1 chút nước tương, nhỏ 1 giọt trên thuốc cho thấm xuống rồi bỏ nước tương đi, rót nước vào đó gọi là Vô giá tán (Toàn Ấu Tâm Giám).
Trị tê, mất cảm giác: Cam toại 60g, Tỳ ma nhân tử 120g, Chương não 30g, tán bột, làm thành bánh, dán vào chỗ đau. Bên trong uống Cam thảo thang (Vạn linh cao – Trích Huyền Phương).
Trị tai điếc đột ngột: Cam toại nửa tấc ta, bọc bông lại nhét vào trong hai lỗ tai, trong miệng nhai Cam thảo thì tai tự nhiên thông (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
Trị thương hàn biến chứng thủy kết hung: Cam toại, cho vào Hãm hung thang uống rất hiệu quả (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Trị Can Tỳ sưng lớn, cổ trướng, đại tiểu tiện ít, mạch Trầm Sác có lực: Cam toại 30g, Nguyên hoa 30g, Đại kích 30g, Khiên ngưu tử 120g, Binh lang 15g, Khinh phấn 3g, Mộc hương 15g, Thanh bì 15g. Tán bột, trộn hồ làm viên, to bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 3g, ngày 1 lần, lúc đói với nước nóng (Chu xa hoàn). Cần chú ý bệnh tình phản ứng sau khi uống thuốc để dùng tiếp hoặc ngưng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Trị sưng độc do thấp nhiệt các loại bỉ khối: Bột Cam toại trộn nước, dán nơi sưng, đồng thời sắc nước Cam thảo uống, dùng để trị các loại sưng độc (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Trị điên cuồng có thể dùng Cam toại 1,5g, Chu sa 0,9g, tán bột uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Cam toại trị thủy kết có sức mạnh, chất nước ở trong người ta ngừng trệ lại ở chỗ nào thì cũng có thể sinh ra bệnh. Cam toại có tính thấu đến những chỗ nước ngưng kết đó, làm cho tiêu tán ra, công dụng chỉ có thể (Bách Hợp).
Vị Cam toại này, gần đây người ta dùng trong việc trị bệnh huyết hấp trùng thời kỳ cuối, xơ gan cổ trướng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…