Xuất xứ: Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương.
Tác giả: Tôn Tư Mạo
Trị thực hàn tích trệ, bụng đau, táo bón, kiết lỵ lâu ngày ra mủ trắng, đỏ, thận viêm mạn tính giai đoạn cuối, tiểu tự ra, nước tiểu có chất độc.
GIẢI THÍCH: Bài này là bài Tứ Nghịch Thang + Nhân Sâm Thang, lại thêm Đại hoàng. Bài Tứ Nghịch + Nhân Sâm Thang vốn dùng để ôn trung, tán hàn, hồi dương, cứu nghịch. Bây giờ thêm Đại hoàng, trở thành bài ôn vận Tỳ dương, vừa công vừa bổ. Mục đích dùng Đại Hoàng là để điều hòa tà uế trọc bị tích trệ, dùng chung với các vị thuốc ôn dương để thích ứng với bệnh âm khí hư suy mà dẫn đến âm hàn nội thịnh, bụng đau, đại tiện bí, kiết lỵ lâu ngày, chất độc ở đường tiểu, chứng bệnh về máu và thuộc chứng thực hàn (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm). THAM KHẢO: Bài này, trong khi ôn dương cứu nghịch, công tà, tả thực là để bổ hư tốt hơn, khác với bài Hoàng Long Thang, Tăng Dịch Thừa Khí Thang ở chỗ trong khi công hạ kết nhiệt ở trường vị, lại vừa bổ khí huyết, dưỡng âm dịch. Hai cách ghép vị thuốc, mới nhìn thì thấy giống cách vừa công vừa bổ, nhưng xét kỹ thì thấy trọng điểm khác nhau, đó là đặc điểm biện chứng trong khi chữa bệnh cần phải nắm vững (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm). Bài này so với bài Ôn Tỳ Thang của sách Phổ Tế Bản Sự Phương tuy cùng là loại thuốc để ôn hạ, nhưng bài của Thiên Kim Phương chủ yếu dùng Đại hoàng để ôn bổ, còn bài của sách Bản Sự Phương tuy cũng ôn trung gia Đại hoàng nhưng có chỗ khác nhau: Bản Sự Phương trị lãnh tiết, tiết tả mà tích trệ không nặng lắm, vì vậy, dùng Đại hoàng lượng ít. Thiên Kim Phương trị xích bạch lỵ, tích trệ nhiều hơn, vì vậy dùng Đại hoàng lượng nhiều. Cùng 1 vị Đại hoàng nhưng phối hợp với các vị thuốc mà liều lượng khác nhau thì tác dụng thuốc cũng khác (Phương Tễ Học Giảng Nghĩa).
Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…