🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Cầu Thận Viêm Mạn Bệnh Học

Cầu Thận Viêm Mạn (Đối Chiếu Bệnh Danh: Chronique Glomerulonephritis). Viêm cầu thận mạn là một loại bệnh thận mạn tính thường gặp, phát bệnh phần lớn vào tuổi thanh tráng niên, nam, nhiều hơn nữ.

Đại Cương

Viêm cầu thận mạn là một loại bệnh thận mạn tính thường gặp, phát bệnh phần lớn vào tuổi thanh tráng niên, nam, nhiều hơn nữ.

Là một loại bệnh có tổn thương tiểu cầu thận, tiến triển từ từ và kéo dài nhiều năm, đặc trưng lâm sàng là phù mức độ khác nhau, nhiều lần tái phát, khoảng 80% bệnh nhân có tăng huyết áp, công thức máu hồng cầu giảm, nước tiểu có protein, hồng cầu, trụ niệu (hồng cầu, trụ trong, trụ hạt) kèm theo sự suy giảm chức năng thận mức độ khác nhau.

Đông y căn cứ vào triệu chứng bệnh như phù kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, cơ thể suy nhược hoặc đau lưng mà qui vào các chứng Phù Thũng, Hư Lao, Yêu ThốngX

Nguyên Nhân

Theo Y học hiện đại thì nguyên nhân bệnh viêm cầu thận mạn chưa rõ ràng. Có người cho rằng viêm cầu thận mạn và viêm cầu thận cấp là 2 giai đoạn của một loại bệnh thận nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 15-20% bệnh nhân có tiền sử viêm cầu thận cấp hoặc viêm cầu thận là một bệnh nhiễm khuẩn có liên quan đến phản ứng miễn dịch của cơ thể. Cũng có học giả cho rằng đây là một hội chứng bệnh lý của Thận mà ngoài nguyên nhân nhiễm liên cầu khuẩn còn có nhiều nguyên nhân khác bệnh do ngoại tà xâm nhập cơ thể gây tổn thương Tỳ Thận, chức năng Tỳ Thận rối loạn (Tỳ không vận hóa được thủy, thận không chủ được thủy) sinh phù thũng, người mệt mỏi, đau lưng (lưng là phủ của Thận).

Chức năng tỳ thận suy giảm thường do mấy nguyên nhân sau:

Sống hoặc sinh hoạt nơi ẩm thấp, cảm phải thấp tà, hoặc ăn uống thất thường tổn thương Tỳ Vị, chức năng vận hóa suy giảm, thấp tụ ở trung tiêu lâu ngày hóa nhiệt, thấp nhiệt kết tụ bệnh thêm nạng.

Lao lực quá sức làm tổn thương Tỳ, ăn uống no đói thất thường khiến cho Tỳ khí suy yếu, ảnh hưởng đến Thận làm cho Tỳ Thận đều suy. Cơ thể Thận vốn bị hư yếu, hoặc bị bệnh lâu ngày Thận khí bị hao tổn, lâu ngày Thận dương suy không làm ấm Tỳ, vận hóa thủy suy giảm, phù lại tái phát, bệnh càng nặng thêm.

Bệnh viêm cầu thận mạn kéo dài, chức năng Tỳ Thận thêm suy giảm thì khí huyết đều hư cũng dẫn đến chức năng các tạng phủ khác như Can âm hư, Can dương thịnh sinh đau đầu hoa mắt, mờ mắt, huyết áp cao, Tâm Phế khí hư sinh hồi hộp, khó thở...

Chẩn Đoán

Thường cầu Thận viêm mạn có tiền sử cầu thận viêm cấp, phù, protein niệu, huyết niệu, huyết áp cao, chức năng Thận suy giảm.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Đối với các trường hợp không điển hình cần khám kỹ để phân biệt với các bệnh sau đây:

Cầu Thận Viêm Cấp: Không có tiền sử viêm cầu thận cấp, huyết áp cao kéo dài, thiếu máu và suy giảm chức năng Thận.

Cao Huyết Áp Nguyên Phát: Lịch sử gia đình có người cao huyết áp, cholesterol máu cao, huyết áp tâm thu cao hơn 200mmHg nhưng chức năng Thận và nước tiểu bệnh lý rất nhẹ.

Bể Thận Viêm: Thời kỳ cuối có suy giảm chức năng Thận nhưng triệu chứng lâm sàng thường có sốt, đau lưng, tiểu nhiều lần, tiểu gấp, nước tiểu nhiều bạch cầu và tế bào mủ, cấy vi khuẩn dương tính.

Lao thận: Vào thời kỳ cuối, cả 2 Thận bị lao nặng hoặc do dùng Streptomycine điều trị lâu ngày gây teo thận dẫn đến nhiễm độc urê nhưng trong bệnh sử có nhiều đợt tiểu ra máu, tiểu nhiều lần, tiểu đau, sốt kéo dài hoặc phát hiện ổ lao.

Bệnh Luput Ban Đỏ Rải Rác: Bệnh có gây suy chức năng Thận nhưng có triệu chứng đặc trưng ở da, khớp và tìm thấy tế bào Hargraves trong máu.

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ

Hội nghị toàn quốc lần thứ 2 của Trung Quốc bàn về bệnh thận đã chia viêm Cầu thận mạn làm 4 chứng Bản và 5 chứng Tiêu như sau:

Về Chứng Bản (hội chứng bệnh lý, thể bệnh), nếu có 3 trong các triệu chứng là thể bệnh được xác định. Có các thể bệnh sau:

Phế Thận Khí Hư: Mặt và chân tay sưng phù, sắc mặt vàng xam. Mệt mỏi. Dễ bị cảm. Thắt lưng đau mỏi. Lưỡi bệu sắc nhợt rêu trắng nhuận, có dấu răng, mạch tế nhược.

Tỳ Thận Dương Hư: Phù thũng rõ, sắc mặt tái nhợt, sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng đau nhức, chân nhức mỏi, tinh thần mệt mỏi, chán ăn hoặc tiêu lỏng, di tinh, liệt dương, tảo tiết tinh, kinh nguyệt không đều, lưỡi bệu, trắng nhợt, có dấu răng, mạch Trầm Tế, hoặc Trầm Trì vô lực.

Can Thận Âm Hư: Mắt khô hoặc mờ, váng đầu, ù tai, lòng bàn tay chân nóng, miệng họng khô, thắt lưng đau, mộng tinh hoặc kinh nguyệt không đều, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Huyền Sác hoặc Tế Sác.

Khí Âm Đều Hư: Sắc mặt kém tươi nhuận, mệt mỏi, không có sức, sốt nhẹ về chiều hoặc lòng bàn chân tay nóng, miệng họng khô hoặc họng đau kéo dài, họng

đỏ sẫm, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế hoặc Nhược.

Về chứng tiêu: Mỗi chứng đều được xác định với các triệu chứng sau:

Ngoại cảm: Có triệu chứng phong hàn hoặc phong nhiệt.

Thủy thấp: Toàn thân phù trung bình hoặc có nước màng bụng, màng phổi.

Thấp nhiệt: Ngoài da nhọt lở, họng sưng đau, bụng đầy, ăn ít, miệng khô, chán ăn, nước tiểu vàng đỏ, tiểu ít, tiểu buốt, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch Nhu Sác hoặc Hoạt Sác.

Huyết ứ: Sắc mặt sạm đen, lưng đau nhói, chân tay tê, sắc lưỡi tím sạm hoặc có ban, điểm ứ huyết, mạch Tế Sáp.

Thấp trọc: ăn ít, buồn nôn hoặc nôn, mệt mỏi, nặng nề, uể oải.

Cách phân thể bệnh thành 4 chứng hư và 5 chứng thực chủ yếu nói rõ bệnh viêm cầu thận mạn là một bệnh mà bệnh lý là hư thực lẫn lộn (chính khí hư mà tà khí thực, cho nên nguyên tắc điều trị bệnh là phải vừa bổ chính khí, vừa phải trục tà khí mới có kết quả).

Biện Chứng Luận Trị

Trên lâm sàng thường gặp 3 thể sau:

Tỳ Dương Hư: Phù ít, không rõ ràng, phù ở mi mắt, sắc mặt xanh trắng, thở gấp, tay chân mỏi mệt, ăn kém, bụng thường hay bị đầy, phân nhão, tiểu ít, chân tay lạnh, chất lưỡi bệu, có vết răng, mạch Hoãn hoặc mạch Trầm Nhược vô lực

ĐIỀU TRỊ: Ích khí kiện Tỳ lợi thủy.

Dùng bài Thực Tỳ Ẩm: Phụ tử (chế), Hậu phác, Mộc hương, Thảo quả, Mộc qua, Đại phúc bì đều 8g, Phục linh 16g, Bạch truật 12g, Can khương 4g (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Hoặc bài Vị Linh Thang gia giảm: Quế chi, Hậu phác 6g, Ý dĩ 16g, Thương truật, Phục linh bì, Trạch tả đều 12g, Xa tiền 20g, Xuyên tiêu 4g. Sắc uống (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Hoàng Kỳ Bổ Trung Thang gia giảm: Sinh hoàng kỳ 20g, Đảng sâm 20g, bạch truật 12g, Trần bì 10g, Hậu phác 8g, Bạch linh 20g, Hồ lô ba 20g, Gừng tươi 10g. Gia giảm: Ăn kém, tiêu chảy gia ý dĩ, Sa nhân, nôn gia Bán hạ (gừng chế) (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học)

Dùng: Ý dĩ 30g, Hoài sơn, Biển đậu, Mã đề, Xích tiểu đậu đều 20g, Đại hồi, Can khương đều 8g, Đăng tâm, Nhục quế đều 4g (Y Học Cổ Truyền Dân Tộc).

Tuyên Phế Lợi Thủy Ẩm (Thiên Gia Diệu Phương q Hạ): Cát cánh, Hạnh nhân, Mộc thông đều 5g, Ý dĩ nhân, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Đại phúc bì, Ngũ gia bì đều 10g, Trần bì 5g, Thông bạch 1 khúc.

TÁC DỤNG: Tuyên Phế, sơ biểu, lý Tỳ, lợi thủy. Trị Thận viêm mạn (Phế khí không tuyên, Tỳ không vận hóa được, nước ứ lại gây phù).

CHÂM CỨU: Cứu Tỳ du, Vị du, Túc tam lý, Tam tiêu du, Thủy phân (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Tỳ Thận Dương Hư: Tinh thần mỏi mệt, sắc mặt tái nhợt, chân tay lạnh, phù nhiều toàn thân kèm bụng nước, tràn dịch màng phổi, tiểu ít, bụng đầy trướng, ăn ít nôn hoặc buồn nôn hoặc khó thở không nằm ngửa được, rêu trắng mỏng hoặc mỏng nhầy, mạch Trầm Tế.

ĐIỀU TRỊ: Ôn dương, lợi thủy.

Dùng bài Chân Vũ Thang gia vị: Bạch truật, Bạch thược, Bạch linh, Trạch tả, Xa tiền đều 12g, Phụ tử (chế), Trư linh đều 8g, Can khương 6g, Nhục quế 4g (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Dùng bài Chân Vũ Thang hợp Ngũ Bì Ẩm Gia Giảm: Phụ tử 12g (sắc trước), Bạch truật 12g, Bạch linh 20g, Sinh hoàng kỳ 20g, Sinh khương bì 8g, Đại phúc bì 15g, Trạch tả 20g, Ngưu tất 12g, Xa tiền tử 30g (bỏ vào túi trước khi cho vào ấm để sắc) Trần bì 8g.

Gia giảm: Phù nhiều, bụng đầy trướng cần trục thủy dùng Bị Cấp Hoàn (Đại hoàng, Can khương, Ba đậu sương) 1-2g. Nôn nhiều thêm Trúc nhự 12g, Khương bán hạ 8g. Mệt mỏi nhiều thêm Nhân sâm 10g hoặc Đảng sâm 16g.

Đậu đỏ, Cỏ xước, Đậu đen đều 20g, Thổ phục linh, Tỳ giải, Hoài sơn đều 16g, Mã đề, Tiểu hồi đều 12g, Đại hồi 10g, Nhục quế, Can khương đều 6g. Sắc với 600ml nước, còn 200ml. Ngày uống 2 lần (Y Học Cổ Truyền Dân Tộc).

Thổ phục linh, Tỳ giải, Hoài sơn đều 16g, Đậu đỏ, Đậu đen đều 20g Đại hồi 10g, Nhục quế 8g, Tiểu hồi, Mã đề đều 12g, Can khương 6g. Sắc uống (Y Học Cổ Truyền Dân Tộc).

Thanh Hóa Ích Thận Thang (Danh Y Trị Nghiệm Lương Phương): Hoàng kỳ, Ba kích đều 30g, Bạch mao căn, Tiêu bạch truật, Sơn dược đều 20g, Lộc giác giao (hoặc Lộc giác sương 30g), Sơn thù nhục, Tỳ giải đều 15g, Mộc thông, Nhục quế đều 10g, Sa nhân 9g. Sắc uống. Uống 5 ngày, nghỉ 2 ngày lại tiếp tục uống. 3 tháng là một liệu trình.

TÁC DỤNG: Ôn Thận, kiện Tỳ, phân thanh giáng trọc.

Trị 40 ca đều tiêu hết phù, hết albumin trong nước tiểu.

Ích Thận Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Sinh địa, Bạch truật đều 15g, Bạch mao căn 50g, Phục linh 20g, Đơn bì 10g, Mạch môn 15g, Tây thảo 20g, Tiểu kế, Đại kế đều 20g, Hoạt thạch, Trạch tả đều 20g, Cam thảo 10g.

TÁC DỤNG: Ích Thận, trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết. Trị thận viêm mạn.

Khí hư thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm; Thận âm bất túc thêm Nữ trinh tử; Thận dương hư thêm Thỏ ty tử, Bổ cốt chỉ.

Ích Khí Tiết Độc Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Hoàng kỳ (sống) 30g, Đảng sâm 15–30g, Bán biên liên, Bồ công anh, Thạch vi đều 30g, Hổ trượng 15–30g, Mẫu lệ (sống) 30g (nấu trước), Đan sâm 15–30g, Nhục quế 0,3g (tán nhuyễn, cho vào thuốc uống).

TÁC DỤNG: Ích khí, trợ vận, tiết độc, lợi thấp. Trị Tỳ Thận đều suy, khí huyết bất túc, thấp độc uẩn kết bên trong gây nên thủy thủng.

Tiêu Thủy Thuyên Dũ Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Thiên hùng (nướng), Mẫu quế, Ma hoàng, Tri mẫu đều 10g, Cam thảo (nướng) 5g, Sinh khương 19g, Đại táo 7 trái. Sắc Ma hoàng với 3 chén nước trước cho sôi, vớt bỏ bọt, cho thuốc vào sắc còn 8 phân. Chia làm 3 lần uống.

TÁC DỤNG: Kiện Tỳ, ích Thận, lợi trọc, giáng trọc. Trị Thận viêm, đường tiểu viêm, thủy thủng.

(Ghi chú: Có thể dùng Phụ tử thay Thiên hùng).

Sau khi đã hết phù, tình trạng sức khỏe người bệnh tiến bộ, bệnh ổn định, để duy trì kết quả, nên tiếp tục cho uống thêm thuốc bổ Tỳ, bổ Thận, hợp với các loại thuốc lợi thấp như:

Kiện Tỳ lợi thấp: Sâm Linh bạch Truật Tán.

Ôn Thận lợi thấp: Tế Sinh Thận Khí Hoàn.

CHÂM CỨU:

Cứu Quan nguyên, Khí hải, Tỳ du, Túc tam lý, Tam âm giao (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Bổ Thận, kiện Tỳ, ích khí. Châm Tỳ du, Thận du, Bàng quang du, Chí thất, Khí hải, Tam âm giao, Thái bạch (Bị Cấp Châm Cứu).

Âm Hư Hỏa Vượng – Can Thận Âm Hư (Thường gặp trong thể Viêm Cầu Thận mạn có huyết áp cao): Phù không nhiều hoặc đã hết phù, mặt nóng bừng, gò má đỏ, mắt mờ, đau đầu, chóng mặt, huyết áp cao, hồi hộp, mất ngủ, lưng đau, di tinh, kinh nguyệt không đều, rìa lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch Huyền Tế

ĐIỀU TRỊ: Tư dưỡng Can Thận, bình Can, tiềm dương, lợi thủy.

Dùng bài Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn gia giảm: Thục địa, Hoài sơn, Câu kỷ tử, Ngưu tất đều 12g, Sơn thù, Trạch tả, Đơn bì, Phục lính đều 8g, Cúc hoa 10g, Xa tiền tử 16g. Sắc uống (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn gia giảm. Sinh địa 20g, Thiên môn, Mạch môn đều 12g, Thạch hộc 12g, Sơn thù 8g, Đơn bì 12g, Bạch linh 12g, Trạch tả 12g, Kỷ tử 12g, Mẫu lệ 40g (sắc trước), Thạch quyết minh 30g (sắc trước), Câu đằng 10g.

Ít ngủ thêm Táo nhân (sao), Viễn chí. Chóng mặt, hoa mắt thêm Đương qui, Bạch thược. Lòng bàn chân tay nóng thêm Tri mẫu, Địa cốt bì (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).

Tang ký sinh, Câu đằng, Xa tiền đều 16g, Cúc hoa, sa sâm, Ngưu tất, Đan sâm, Quy bản, Trạch tả đều 12g. Sắc uống (Y Học Cổ Truyền Dân Tộc).

CHÂM CỨU:

Châm Tam âm giao, Thái xung, Can du, Nội quan, Thần môn và A thị huyệt tùy theo chứng (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Tư bổ Can Thận. Châm Can du, Thận du, Thái xung, Chiếu hải, Tam âm giao, Âm giao (Bị Cấp Châm Cứu).

Khí Huyết Hư: Mệt mỏi, thích nằm, sắc mặt kém tươi nhuận, môi lưỡi tái nhợt, chóng mặt, ù tai, mắt mờ, lưng gối nhức mỏi, ăn kém, không phù hoặc phù nhẹ, mạch Trầm Nhược.

ĐIỀU TRỊ: Song bổ khí huyết. Dùng bài Đại Bổ Nguyên Tiễn gia giảm. Đáng sâm 12g, Sinh hoàng kỳ 20g, Bạch truật 12g, Hoài sơn 12g, Câu kỷ tử 12g, Đỗ trọng 12g, Đương qui 12g, Bạch thược 12g, Bạch linh 12g, Xuyên khung 10g, Trần bì 8g, Đan sâm 12g.

CHÂM CỨU: Bổ khí dưỡng huyết. Chọn huyệt Cách du, Can du, Tỳ du, Thận du, Khí hải, Tam âm giao, Túc tam lý (Bị Cấp Châm Cứu).

Âm Dương Đều Hư, Thấp Trọc Thịnh: Mặt phù, sắc mặt xam, người gầy, da khô, chân tay mát, tinh thần lơ mơ, ngực tức, bụng trướng, chán ăn, nôn hoặc buồn nôn, nước tiểu ít, trong, tiêu chảy hoặc táo bón, khó thở hoặc bứt rứt không yên, hoặc hôn mê bất tỉnh, co giật, lưỡi bệu sắc nhợt, rêu lưỡi mỏng nhầy hoặc vàng nhầy, mạch Trầm Tế hoặc Huyền Tế.

Là trạng thái bệnh lý thận suy nặng, trong điều trị cần kết hợp phương pháp cấp cứu y học hiện đại.

ĐIỀU TRỊ: Song bổ âm dương, phò chính, giáng trọc. Dùng bài Ôn Tỳ Thang gia giảm. Chế Phụ tử 12g (sắc trước), Nhân sâm 12g, chế Đại hoàng 12g, Bán hạ, Sinh khương, Trần bì, Trúc nhự đều 12g, Bạch linh 16g, Hậu phác 8g (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).

Viêm Cầu Thận Mạn Tính Có Urê Máu Cao: Muốn nôn, nôn mửa, sắc mặt đen, tức ngực, bụng trướng, tiêu lỏng, tiểu ngắn, tiểu ít, chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng dầy, mạch Huyền Tế, Nhu Tế.

Do công năng của Tỳ và Thận dương suy yếu nên âm trọc nghịch lên gây ra chứng Urê huyết cao, gọi là dương hư, âm nghịch.

ĐIỀU TRỊ: Ôn dương, giáng nghịch.

Dùng Phụ tử (chế), Đại hoàng 12-16g,, Bạch truật, Phục linh, Bán hạ (chế) đều 12g, Đảng sâm 20g, Đơn bì, Sinh khương đều 8g, Hậu phác 6g. Sắc uống (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Nếu nôn nhiều, dùng bài Bán Hạ Tả Tâm Thang (Bán hạ (chế) 12g, Can khương 4g, Đảng sâm 16g, Cam thảo 4g, Hoàng liên 3g, Đại táo 12g).

CHÂM CỨU: Ích khí, thắng thấp, hóa trọc. Châm Tỳ du, Thận du, Bàng quang du, Trung cực, Âm lăng tuyền, Túc tam lý (Bị Cấp Châm Cứu).

NHĨ CHÂM (Dùng trong tất cả các trường hợp)

Dán thuốc (Vương bất lưu hành) vào các huyệt Thận, Thượng thận, Du niệu quản, Thủy đạo, Giao cảm, Tam tiêu, Tỳ, Can. Mỗi ngày dán huyệt ở một tai. Cách ngày dán một lần, 10 lần là một liệu trình (Bị Cấp Châm Cứu).

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học