Xuất xứ: Thương Hàn Luận (BiệnThái Dương Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị).
Tác giả: Trương Trọng Cảnh
Giải cơ, phát hãn, điều hòa doanh vệ. Trị thái dương trúng phong, hàn nhập huyết thất, tiêu chảy, bụng trướng, cơ thể đau nhức.
GIẢI THÍCH: Quế chi giải cơ, phát biểu, ôn thông kinh mạch, phối hợp với Bạch thược có tác dụng liễm âm, hòa vinh để hòa lý, vừa tán, vừa thu, điều hòa vinh vệ khiến cho biểu tà được giải, lý khí được hòa, là thuốc chủ yếu. Sinh khương tân ôn phát tán, giúp Quế chi giải biểu và khai vị; Đại táo cam hoãn, giúp Thược dược hòa lý; Cam thảo cam hoãn hòa trung, điều hòa các vị thuốc. Quế Chi Thang tuy là phương thuốc giải biểu nhưng phối hợp với Thược dược là thuốc hòa âm, khác với phương thuốc chuyên cho phát hãn (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm). GHI CHÚ: Uống xong, ăn ít cháo lỏng rồi trùm chăn cho mồ hôi ra. Còn gọi là Dương Đán Thang (Kim Quỹ Yếu Lược). THAM KHẢO: Bài thuốc này, ngoài việc trị biểu chứng ngoại cảm phong tà, còn có thể trị các bệnh sau khi ốm, sau khi sinh, do doanh vệ bất hòa, lúc lạnh lúc nóng, tinh thần không phấn chấn, ăn uống giảm sút, mạch chậm, có mồ hôi. Nếu thuộc chứng biểu không ra mồ hôi hoặc nhiệt thịnh, miệng khát, mạch Sác thì không nên dùng. Nhiệt thịnh mà dùng lầm bài Quế Chi Thang có khi gây ra chảy máu cam. Trong Thương Hàn Luận, dùng bài thuốc này, thường lấy mạch Phù Hoãn hoặc Phù Nhược làm thước đo, các nhà y học đời sau lấy mạch Hoãn, tự ra mồ hôi làm yếu điểm để chọn bài thuốc này. Bài này thêm Phụ Tử biến thành bài Quế Chi Gia Phụ Tử Thang. Bài này thêm Cát Căn thành bài Quế Chi Gia Cát Căn Thang. Bài này thêm Hoàng Cầm thành bài Dương Đán Thang. Bài này tăng thêm liều lượng Thược Dược, lại thêm Đường Phèn thành bài Tiểu Kiến Trung Thang (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm).
Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…