Tiểu Thanh Long Thang

Xuất xứ: Thương Hàn Luận.

Tác giả: Trương Trọng Cảnh

Tác dụng

Trị thương hàn ở biểu không giải, vùng dưới tim có thủy khí, ho, suyễn cấp, phế trướng, ngực đầy, mũi nghẹt, sổ mũi, đờm ẩm đình tích, phế khí không tuyên.

Thành phần (9 vị)

Ghi chú

GIẢI THÍCH: Ma hoàng tuyên phế, bình suyễn; Phối hợp với Quế chi có tác dụng tán hàn; Bạch thược + Quế chi hòa vinh vệ; Can khương + Tế tân + Bán hạ ôn hóa hàn, tán ẩm; Ngũ vị tử liễm Phế; Cam thảo điều hòa các vị thuốc (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm). THAM KHẢO: Bài này so với bài Định Suyễn Thang có sự khác biệt: Tiểu Thanh Long Thang dùng trị phong hàn khách ở biểu, đờm ẩm tích sinh ra ho, hen suyễn; Định Suyễn Thang trị ho suyễn do đờm nhiệt, nội hàn. Bài này là bài Ma Hoàng Thang + Quế Chi Thang, bỏ Sinh khương, Đại táo, Hạnh nhân, thêm Can khương + Tế tân + Bán hạ và Ngũ vị tử tạo thành. Tuy có Ma hoàng và Quế chi là 2 vị thuốc phát hãn nhưng có Bạch Thược ức chế, sức phát hãn không mạnh. Ma hoàng và Quế chi vốn cũng là thuốc lợi thủy, lại thêm Can khương + Tế tân + Ngũ vị tử + Bán hạ để ôn Phế, hóa ẩm, hiện nay, thường dùng bài này trị chứng hàn ẩm ở phần lý. Hễ thấy có chứng ho, đờm nhiều mà loãng, khí suyễn, nôn khan, nôn ra nước trong, không khát, sợ lạnh, nhất là sau lưng lạnh hoặc có phát sốt nhưng không cao, rêu lưỡi trắng trơn, mạch Phù Khẩn hoặc Huyền Hoạt, Huyền Tế đều thuộc chứng đờm ẩm, do cảm phong tà gây ra, dùng bài thuốc này rất hay. Cổ nhân có nói: ‘Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử là thuốc tiên trị đờm ẩm, khái thấu. Vì ẩm là âm tà, làm hại khí thanh dương, không thể không dùng đến Tế tân, Can khương để lấy vị cay mà tán nhiệt cao nhưng phải chú ý phối hợp với Bạch thược, Ngũ vị, Cam thảo để tán ẩm tà mà không làm hại Phế khí’ (380 Bài Thuốc Đông Y Hiệu Nghiệm). Bài này so với bài Đại Thanh Long Thang có sự khác biệt: Tiểu Thanh Long Thang trị ngoại hàn trong ẩm, Đại Thanh Long trị ngoại hàn trong nhiệt. Sở dĩ nói các vị cảu 2 bài thuốc gần giống nhau nhưng tác dụng lại khác. Đại Thanh Long trị ở phần lý tức là thanh uất nhiệt bên trong; Tiểu Thanh Long cũng trị ở phần lý nhưng là ôn tán thủy ẩm. Thí dụ: Chứng ngoại hàn, nội ẩm, nếu kèm hiện tượng nhiệt: xuất hiện phiền táo thì dùng bài Tiểu Thanh Long Thang thêm Thạch cao tức là bài Tiểu Thanh Long Gia Thạch Cao Thang, đó là dùng hàn và ôn cùng trị để cho thủy nhiệt đều tan (Phương Tễ Học Giảng Nghĩa).

Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…