Tiểu Đục Bệnh Học
Tiểu Đục (Đối Chiếu Bệnh Danh: Tiết Tả - Diarrhée - Diarrhea). Là trạng thái nước tiểu ra đục như sữa, như nước tương, như nước vo gạo. Tiểu đục là một bệnh được mô tả trong chứng Ngũ Lâm của Đông y (Cao Lâm).
Đại Cương
Là trạng thái nước tiểu ra đục như sữa, như nước tương, như nước vo gạo.
Tiểu đục là một bệnh được mô tả trong chứng Ngũ Lâm của Đông y (Cao Lâm).
Được quy vào loại Niệu Trọc, Niệu Bạch, Bạch Trọc, Xích Bạch Trọc, Tiện Trọc, Nịch Trọc, Nhị Trọc của Đông Y.
Nam nữ đều bị như nhau.
Tương đương chứng Tiểu Ra Dưỡng Trấp, Tiểu Ra Protein, Lao Đường Tiểu, Viêm Nhiễm Đường Tiểu… của Y Học Hiện Đại.
Nguyên Nhân
Thấp Nhiệt Hạ Chú: Do ăn uống nhiều thức ăn béo, ngọt, cay nóng hoặc uống nhiều rượu khiến cho Tỳ bị mất chức năng kiện vận, thấp sinh ra nhiệt. Hoặc do cảm phải thấp nhiệt, dồn xuống hạ tiêu. Hoặc sau khi bị bệnh, thấp nhiệt còn dư lại không trừ hết. Hoặc do tình chí không thư thái, chức năng sơ tiết không hoạt động khiến cho mộc vượng khắc thổ. Tạng phủ bên trong sinh thấp nhiệt, dồn xuống hạ tiêu, bàng quang không khí hoá được gây nên tiểu đục như nước vo gạo. Nếu nhiệt nung nấu huyết lâu ngày sẽ gây nên tiểu ra lẫn máu, gọi là Xích trọc. Sách Y Học Nhập Môn – Bạch Trọc viết: "Xích bạch trọc, do Tỳ Vị có thấp nhiệt, trung tiêu không thanh, trọc khí thấm vào Bàng quang gây nên".
Tâm Nhiệt Hạ Di: Ưu tư, lao nhọc quá mức làm tổn thương Tâm, doanh huyết bị hao tổn, hoặc bệnh nhiệt làm tổn thương âm đều có thể dẫn đến Tâm âm bị bất túc, hoả nhiệt vượng lên, nhiệt ở Tâm chuyển xuống Tiểu trường gây nên tiểu đục. Sách Đan Khê Tâm Pháp – Xích Bạch trọc viết: "Xích trọc do Tâm hư có nhiệt, do tư lự gây nên".
Đờm Nhiệt Nội Uẩn: Đờm nhiệt do tạng phủ bị rối loạn gây nên, do ăn uống không điều độ, ăn nhiều chất béo, ngọt, làm Tỳ Vị bị tổn thương hoặc lao động quá sức làm tổn thương Tỳ khiến cho Tỳ dương bị kém, không kiện vận được, những thứ lạnh, thấp đình trệ lại bên trong, tích tụ lại, hoá thành đờm, đờm thấp làm cho khí bị ngăn trở. Nếu sự khí hoá của Tam tiêu bị ngăn trở thì thanh trọc không phân biệt được, đờm thấp sẽ dồn xuống dưới, gây nên tiểu đục như nước vo gạo. Sách Thọ Thế Bảo Nguyên viết: "Âm không thăng, dương không giáng, thượng hạ quấn lấy nhau, không phân biệt được thanh trọc, gây ra thấp nhiệt lưu chú".
Biện Chứng Luận Trị
Theo sách Trung Y Cương Mục, thường gặp các loại sau:
Thấp Nhiệt Hạ Chú: Tiểu đục như nước vo gạo hoặc như mỡ hoặc có lẫn máu, tiểu ra không thoải mái, tiểu buốt, rít, bụng dưới nặng chướng hoặc kèm sốt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bệu, mạch Huyền Sác.
ĐIỀU TRỊ: Thanh lợi thấp nhiệt, phân thanh bí trọc, thanh Tâm, thông lạc.
Dùng bài Tỳ Giải Phân Thân Ẩm gia giảm: Hoàng bá, Xa tiền tử, Bạch truật, Phục linh, Tỳ giải, Xương bồ, Liên tử tâm, Đan sâm.
Hoàng bá, Xa tiền tử thanh nhiệt, lợi niệu; Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ, trừ thấp; Tỳ giải, Xương bồ phân thanh bí trọc; Liên tử tâm, Đan sâm thanh tâm, hoạt huyết, thông lạc. Làm cho thấp nhiệt được trừ, thanh trọc được phân, kinh toại thông thì chất đục sẽ hết.
Nếu thấp nhiệt nhiều, tiểu nóng, rát, thêm Long đởm thảo, Mộc thông, Chi tử để tả hoả, thông lợi bàng quang. Bụng chướng, tiểu rít, khó tiểu thêm Ô dược, Ích trí nhân để lý khí, ích Thận. Nước tiểu có lẫn máu, thêm Đại kế, tiểu kế, Ngẫu tiết, Bạch mao căn để lương huyết, chỉ huyết.
Tỳ Thận Đều Hư: Tiểu đục như nước vo gạo hoặc như mỡ đông, thân thể gầy ốm, da vàng ủng, mệt mỏi không có sức, lưng đau, chân yếu, chóng mặt, tai ù, mồ hôi trộm, mồ hôi tự ra, lưỡi nhạt, ít rêu, mạch Tế, không lực.
ĐIỀU TRỊ: Ích khí, kiện Tỳ, bổ Thận, cố nhiếp.
Dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang hợp với Lục Vị Địa Hoàng Hoàn gia giảm: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Phục linh, Bạch truật, Thục địa, Sơn dược, Sơn thù nhục, Thỏ ty tử, Khiếm thực, Kim anh tử, Thăng ma.
Hoàng kỳ đại bổ dương khí; Đảng sâm ích khí; Bạch truật kiện Tỳ; Phục linh kiện Tỳ trừ thấp; Thục địa, Sơn dược, Sơn thù bổ Thận, ích tinh; Thỏ ty tử, Khiếm thực, Kim anh tử ích âm, cố Thận; Thăng ma thăng khí thanh dương, dẫn thuốc đi lên, làm cho thanh thăng, trọc giáng.
Tiểu đục lâu ngày không khỏi, thêm Tang phiêu tiêu, Ích trí nhân, Nữ trinh tử, Liên tu, Sa uyển tật lê, Long cốt, Mẫu lệ.
Tham Khảo
MỘT SỐ BÀI THUỐC KINH NGHIỆM
Cao Lâm Thang (Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1992 (11) : 495): Thái tử sâm, Hoàng kỳ (chích) đều 30g, Đương quy, Câu kỷ tử, Đỗ trọng, Hoài sơn đều 10g, Thạch xương bồ, Uất kim đều 15g, Ngô công 2-4 con. Sắc uống ngày một thang. Ba ngày là một liệu trình.
Đây là bài Đại Bổ Nguyên Tiễn hợp với Xương Bồ Uất Kim Thang. Trong bài dùng thêm Ngô công là dựa theo kinh nghiệm lâm sàng.
Gia giảm: Nếu thấp nặng, thêm Phục linh, Thương truật, Xa tiền tử, Tỳ giải. Nhiệt nhiều thêm Tỳ giải, Xa tiền tử, Áp chích thảo, Tử hoa địa đinh. Tinh thoát thêm Khiếm thực, Liên tử, Ích trí nhân, Kim anh tử. Huyết ứ bên trong thêm Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa, Ngưu tất. Trung tiêu bị thấp ngăn trở thêm Bạch đậu khấu, Biển đậu, Hậu phác, Trần bì, Thương truật (sao). Âm hư hoả vượng thêm Hoàng bá, tri mẫu, Hạn liên thảo, A giao.
Tác Dụng: Bồi bổ Tỳ Thận, hoá trọc, lợi khiếu. Trị tiểu ra dưỡng trấp.
Đã dùng trị 112 ca, tất cả đều thuộc loại tiểu ra dưỡng trấp loại khó trị. Trong đó 55 nam, 57 nữ. Tuổi từ 10-79 (gặp nhiều nhất là tuổi 40-60). Bị giun chỉ 13 ca. Điều trị trên 3 tháng. Kết quả khỏi hoàn toàn 35, có hiệu quả ít 52, có chuyển biến 22, không hiệu quả 3.
Tiêu My Thang (Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1992 (2) : 61): Đảng sâm, Xuyên són giáp (nướng), Tỳ giải, Sơn thù nhục đều 9-12g, Sinh địa, Bạch thược, Sài hồ, Từ trưỡng lang đều 6-9g, Bạch cập, Sơn dược, Hoàng kỳ đều 15g-30g, Thăng ma 6g. Sắc uống ngày một thang, 10 ngày là một liệu trình.
Tác Dụng: Ích khí, thăng đề, ôn dương, hoá khí, phân thanh lợi thấp. Trị tiểu ra dưỡng trấp.
Đã dùng trị 57 ca, nam 49, nữ 8. Tuổi từ 21-58. Mắc bệnh từ 5-14 năm. Kiểm tra đều bị tiểu ra dưỡng trấp. Kết quả khỏi hoàn toàn 34 (các triệu chứng chuyển biến tốt, sau ba lần xét nghiệm kiểm tra chất đản bạch đều âm tính), hiệu quả ít 19, có chuyển biến 4. Uống nhiều nhất 97 ngày, ít nhất 15 ngày, bình quân uống 25 ngày.
Nhũ My Tiễn (Tân Trung Y 1990 (2) : 23): Đại thanh diệp, Bản lam căn, Thảo hà xa đều 18g, Xa tiền thảo 20g, Sinh địa 15g, Hoàng bá 12g, Tri mẫu 10g, Uy Hy Hoàn 6-10g, Quy bản (sống), Lục Nhất Tán đều 10-30g, Khổ sâm phiến 24g. Sắc uống. Hai tuần là một liệu trình.
Tác Dụng: Thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, tư âm, bổ Thận. Trị tiểu ra dưỡng trấp.
Đã trị 48 ca. Kết quả 29khỏi sau 1 tuần, sau hai tuần là 17, sau 3 tuần có 2 người. Trong đó 36 ca sau một năm không tái phát, 11 người sau 3 năm không tái phát. Tỉ lệ khỏi 100%.
Phân Thanh Bí Trọc Tán (Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1991 (12) 556): Ý dĩ nhân, Sơn dược, Biển đậu, Khiếm thực, Tỳ giải, Xương bồ, lượng bằng nhau. Tán bột. Mỗi lần dùng 15g thuốc bột, ngày 3 lần.
Tác Dụng: Bổ Tỳ ích khí, phân thanh biệt trọc, thanh thấp nhiệt. Trị tiểu ra dưỡng trấp.
Đã dùng bài này trị 43 ca, nam 29, nữ 14 qua kiểm tra thấy có tiểu ra dưỡng trấp dương tính., có 5 người bị giun chỉ. Kết quả: khỏi 40, không hiệu quả 3 (trong đó 1 ca xoang bụng có bướu, 1 ca bị lao cột sống gây nên tiểu ra dưỡng trấp). Thời gian uống thuốc ngắn nhất là 7 ngày, dài nhất là 30 ngày. Các chứng trạng tiêu hết, sau khi kiểm tra thấy hết tiểu ra dưỡng trấp, cho uống thêm 30 thang để tránh tái phát. Trong 25 ca khỏi, có 10 người 3 năm sau bị tái phát. cũng dùng bài thuốc trên để trị khỏi.
Sơn Tra Tiêu My Thang (Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí 1987 (1) : 15): Sơn tra 50g, Phục linh, Tỳ giải, Xa tiền thảo đều 15g, Binh lang, Địa long, Hải tảo đều 10g. Sắc uống. Sau khi khỏi, nên chuyển thành dạng thuốc hoàn với mật để uống khoảng ½ tháng hoặc 1 tháng.
Tác Dụng: Kiện Tỳ, tiêu chỉ, thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, hành ứ. Trị tiểu ra dưỡng trấp.
Đã dùng trị 32 ca. Kết quả khỏi 20 (63%), hiệu quả ít 8 (25%), có chuyển biến 3 (9%), không kết quả 1 (3%). Tổng kết đạt 97%.
Hoá Ứ Thanh Trọc Thang (Giang Tô Trung Y 1993, (2) : 21): Tỳ giải, Ích mẫu thảo, Phục linh, Thỏ ty tử, Hoàng kỳ, Ý dĩ nhân đều 15g, Bào giáp phiến (Xuyên sơn giáp), Đào nhân, Hồng hoa đều 10g.
Tác Dụng: Hoạt huyết, hoá ứ, kiện Tỳ, ích Thận, thanh lợi thấp nhiệt. Trị tiểu ra dưỡng trấp.
Dùng trị 35 ca, nam 17, nữ 18. tuổi từ 30 đến 77. mắc bệnh từ 1,5 tháng đến 15 năm. Toàn bộ nước tiểu đều đục như sữa. Kiểm tra xét nghiệm đều dương tính. Kết quả khỏi hoàn toàn 28, 4 có chuyển biến, không hiệu quả 3. Uống ít nhất là 4 thang, nhiều nhất 65 thang. Đạt tỉ lệ 91,4%.