🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Tiểu Không Tự Chủ Bệnh Học

Tiểu Không Tự Chủ (Đối Chiếu Bệnh Danh: Di Niệu - Tiểu Tiện Thất Cấm). Là tình trạng đi tiểu nhiều lần, muốn là phải đi tiểu ngay, cũng có khi nước tiểu ra mà không biết. Ban đêm, trong khi ngủ mà nước tiểu tự ra, gọi là Niệu Sàng.

Đại Cương

Là tình trạng đi tiểu nhiều lần, muốn là phải đi tiểu ngay, cũng có khi nước tiểu ra mà không biết.

Ban đêm, trong khi ngủ mà nước tiểu tự ra, gọi là Niệu Sàng.

Ban ngày, lúc tỉnh táo mà nước tiểu cũng cứ ra, gọi là Tiểu Tiện Thất Cấm (Tiểu không tự chủ).

Thường gặp nơi những người sau khi sinh xong, những người lớn tuổi, bệnh lâu ngày, tình chí không thoải mái.

Tương đương chứng Rối loạn thần kinh công năng đường tiểu, một số biến chứng về đường tiểu của Y Học Hiện Đại.

Nguyên Nhân

Các sách cổ đều cho rằng tiểu không tự chủ là do hư.

Thiên Tuyên Minh Ngũ Khí Luận (Tố Vấn 23) viết: "Bàng quang không lợi thành chứng long (tiểu tiện vít, đau) hoặc bất cước (tức tiểu tiện bất cấm), và di niệu (tiểu không tự chủ).

Thiên Bản Du (Linh Khu 2) viết: "… Hạ tiêu thực thì sinh ra chứng bí tiểu, hư thì sinh ra chứng tiểu không tự chủ".

Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận viết: "Người bị mất ngủ , tiểu nhiều là do âm khí thịnh, dương khí hư". Ở mục Tiểu Tiện Bất Cấm Hậu (Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận) viết: "Chứng tiểu không cầm do Thận khí hư, cảm phải lạnh".

Sách Nhân Trai Trực Chỉ Phương xếp tiểu không tự chủ vào loại Hạ Tiêu Súc Huyết.

Như vậy tiểu không tự chủ do Bàng quang không kềm chế được, mà Bàng quang không kềm chế được là do công năng của Phế, Tỳ, Thận bị suy yếu. Vì Thận chủ nhị tiện, Thận có quan hệ biểu lý với Bàng quang, Thận suy yếu không ức chế được thuỷ dịch gây nên tiểu không tự chủ. Thiên Ngũ Tạng Phong Hàn Tích Tụ (Kim Quỹ Yếu Lược) cho rằng: Hạ tiêu suy kiệt thì tiêu tiểu không tự chủ mà Phế, Tỳ khí hư không thu nhiếp được cũng ảnh hưởng đến sự bế tàng của Bàng quang.

Vưu Tài Kinh trong Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển cho rằng: Tỳ, Phế khí hư không ước thúc được thuỷ đạo sẽ sinh ra chứng tiểu không nín được. Theo sách Kim Quỹ Yếu Lược thì trên hư không chế được dưới ý chỉ Phế Tỳ, Thận bị suy yếu đều có thể làm cho Bàng quang mất chức năng ước thúc gây nên tiểu không tự chủ.

Trên lâm sàng thường gặp một số nguyên nhân sau:

Hạ Nguyên Hư Tổn, Tiên Thiên Bất Túc: Cơ thể gầy ốm, suy nhược, sinh hoạt tình dục quá độ làm cho Thận bị tổn thương, hoặc do lớn tuổi, cơ thể suy nhược, Thận khí hư suy, hạ nguyên hư tổn. Nếu Thận dương bất túc, hạ nguyên hư lạnh sẽ mất chức năng bế tàng, không ước thúc được thuỷ gây nên tiểu không tự chủ.

Chương Di Niệu (Ngoại Đài Bí Yếu) viết: "Bệnh nguyên của chứng di niệu là do Bàng quang hư lạnh không ước thúc được thuỷ gây nên".

Nếu Thận âm bất túc, tướng hoả vong động, hư nhiệt quấy rối Bàng quang, thuỷ không được yên có thể gây nên tiểu nhiều, tiểu không tự chủ. Chương Tiểu Tiện Bất Cấm (Minh Y Chỉ Chưởng) nhận định: "Tiểu không tự chủ hoặc tiểu nhiều, có phương đa số cho là hàn vì vậy dùng các loại thuốc ôn, sáp, không biết rằng đó là thuộc nhiệt, do thuỷ tà ở Bàng quang quấy động, thuỷ không được yên, vì vậy Bàng quang không yên gây nên. Do đó nơi những người lớn tuổi đa số thấy tiểu nhiều, tức là Bàng quang ít huyết, dương hoả vượng".

Phế Tỳ Khí Hư: do lao thương quá độ hoặc do sau khi bệnh nguyên khí hao tổn đều có thể làm cho Phế khí hư, không ước thúc được thuỷ dịch gây nên tiểu không tự chủ. Sách Y Tông Tất Độc – Tiểu Tiện Bất Cấm viết: "Phế chủ khí để đưa xuống, chủ thuỷ để rót xuống Bàng quang, tân dịch được tàng giữ thì khí hoá sẽ xuất ra, thuỷ tuyền không giữ lại thì Bàng quang làm sao tàng giữ lại được. Phế hư là chỉ thượng hư, Bàng quang hư là chỉ hạ hư"... Vì vậy, ăn uống không điều độ hoặc ưu tư quá độ hoặc cảm phải hàn thấp đều có thể làm cho Phế khí suy yếu, dẫn đến trung khí bị hạ hãm, Bàng quang khí hư, không ước thúc được thuỷ dịch gây nên tiểu nhiều, tiểu không tự chủ. Sách Loại Chứng Trị Tài – Di Niệu viết: "Chứng di niệu, trước sau đều do tự són ra, khí không nhiếp được nên số lần đi tiểu tăng".

Thấp Nhiệt Hạ Chú: Tình chí không thoải mái, Can không sơ tiết được, mộc không thắng thổ, thấp nhiệt uất ở bên trong, nhiệt truyền vào Bàng quang. Hoặc uống rượu quá mức, ăn uống không điều độ, thấp nhiệt bên trong sẽ sinh ra, rót xuống Bàng quang sẽ gây nên tiểu không tự chủ. Sách Y Học Lục Yếu – Di Nịch viết: "Do hạ bộ có nhiều thấp nhiệt, làm cho nước chảy lung tung, làm cho người ta thích uống rượu".

Hạ Tiêu Súc Huyết: Đa số do ứ huyết dồn vào Bàng quang, gây ngăn trở đường tiểu, khiến cho khí đưa lên, không giữ được dẫn đến tiểu nhiều, tiểu không tự chủ. Thường gặp nơi phụ nữ sau khi sinh bị tổn thương hoặc nơi người nam lớn tuổi. Sách Nhân Trai Trực Chỉ Phụ Di Phương Luận viết: "Hạ tiêu súc huyết và hư lao tổn thương bên trong thì tiểu tiện tự ra mà không biết". Sách Loại Chứng Trị Tài – Bế Lung Di Niệu viết: "Sau khi sinh mà không thuận sẽ làm tổn thương Bàng quang, tổn phá niệu phu (bàng quang), sẽ gây nên chứng tiểu không tự chủ".

Biện Chứng Luận Trị

Nguyên nhân gây nên tiểu không tự chủ chủ yếu là do hư, vì vậy cần bồi bổ là chính. Thận hư yếu nên dùng phương pháp bổ Thận, cố sáp, có thể dùng bài Tang Phiêu Tiêu tán, Súc Tuyền Hoàn. Nếu dương khí bất túc nên dùng phép ôn Thận, súc niệu. Dùng bài Mẫu Lệ Thang gia giảm. Tỳ Phế hư, nên bổ khí để nâng lên, dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang gia giảm.

Thận Dương Bất Túc, Hạ Nguyên Hư Lãnh: Tiểu nhiều, đêm đi tiểu 2-3 lần hoặc nhiều hơn hoặc tiểu không tự chủ, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng đau, gối mỏi, tiểu nhiều, nước tiểu trong, sắc mặt trắng, lưỡi rất nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Trầm, Trì vô lực, mạch bộ xích không có lực.

ĐIỀU TRỊ: Ôn Thận, cố sáp.

Dùng bài Tế Sinh Thỏ Ty Tử Hoàn gia vị: Thỏ ty tử, Nhục thung dung, Phụ tử, Lộc nhung, Ích trí nhân, Tang phiêu tiêu, Ngũ vị tử, Mẫu lệ, Sơn dược, Kê nội kim, Ô dược, Phá cố chỉ, Thục địa.

Đây là bài Tế Sinh Thỏ Ty Tử Hoàn thêm Phá cố chỉ và Thục địa. Trong bài dùng Thỏ ty tử, Nhục thung dung, Phụ tử, Lộc nhung, Phá cố chỉ ôn bổ Thận dương; Thục địa bổ âm trợ dương theo ý Âm trung cầu Dương; Ô dược tán khí hàn ở Bàng quang; Ích trí nhân, Tang phiêu tiêu, Ngũ vị tử, Mẫu lệ, Sơn dược, Kê nội kim cố sáp, súc niệu.

Nếu Đốc mạch suy yếu, khí của Bàng quang không vững sẽ thấy tiểu nhiều, tiểu không tự chủ, cột sống lưng như trống rỗng, lưng gối đau, chóng mặt, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Huyền Tế vô lực. Cần dùng phương pháp bổ ích Đốc mạch kèm cố sáp. Dùng bài Trầm Thị Thỏ Ty Tử Hoàn bỏ Phục linh, Kỷ tử, thêm Tang ký sinh, Tục đoạn, Cẩu tích, Tang phiêu tiêu, Long cốt, Mẫu lệ.

Thỏ ty tử, Cẩu tích, Tục đoạn, Tang ký sinh ôn bổ Đốc mạch và Thận, Sơn dược, Liên nhục, Tang phiêu tiêu, Long cốt, Mẫu lệ cố sáp, súc niệu.

Thận Âm Bất Túc, Tướng Hoả Vong Động: tiểu nhiều hoặc tiểu không tự chủ hoặc tiểu nhỏ giọt không hết, nước tiểu nóng, miệng khát, họng khô, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, hư phiền, mất ngủ, gò má đỏ, môi đỏ, táo bón, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác, hai bộ xích không có lực.

ĐIỀU TRỊ: Tư âm, giáng hoả, cố sáp.

Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia vị: Tri mẫu, Hoàng bá, Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả, Long cốt, Mẫu lệ, Tang phiêu tiêu.

Đây là bài Tri Bát Địa Hoàng Hoàn thêm Long cốt, Mẫu lệ, Tang phiêu tiêu. Bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn tư bổ Thận âm, thanh giáng tướng hoả; Long cốt, Mẫu lệ, Tang phiêu tiêu sáp niệu chỉ di.

Phế Khí Thượng Hư, Bất Năng Chế Hạ: Tiểu nhiều hoặc tiểu không tự chủ hoặc kèm ho lâu ngày hoặc khi ho, cười thì nước tiểu chảy ra, khạc đờm, không khát, sắc mặt trắng nhạt, hơi thở ngắn, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Tế Nhược.

ĐIỀU TRỊ: Ôn Phế, ích khí.

Dùng bài Cam Thảo Can Khương Thang gia vị: Cam thảo, Can khương, Nhân sâm, Bạch quả.

Đây là bài Cam Thảo Can Khương Thang thêm Nhân sâm, Bạch quả. Dùng Cam thảo, Can khương để ôn trung khí, trung khí mạnh lên thì Phế khí có thể ôn, vì vậy dùng Can khương để bồi Thổ sinh Kim; Phối Can khương với Nhân sâm để ôn Phế, ích khí giúp cho đường tiểu mạnh lên; Bạch quả ôn Phế, ích khí, kềm chế nước tiểu.

Tỳ Khí Hư Nhược, Bàng Quang Thất Ước: Tiểu nhiều lần hoặc tiểu không tự chủ, lao nhọc quá thì bệnh nặng, bụng dưới như căng chướng, xệ xuống, ăn uống ít, mệt mỏi, chỉ thích nằm, thoát giang, sa tạng phủ, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Hoãn Nhược hoặc Nhu Tế.

ĐIỀU TRỊ: Bổ Khí, kiện Tỳ.

Dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang gia vị: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Cam thảo, Đương quy, Trần bì, Thăng ma, Sài hồ, Ngũ vị tử, Sơn dược.

Đây là bài Bổ Trung Ích Khí Thang thêm Sơn dược, Ngũ vị tử. Dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang để bổ khí, kiện Tỳ, thăng đề, cử hãm; Sơn dược, Ngũ vị tử ích khí kèm thu nhiếp nước tiểu, giúp khôi phục chức năng thăng giáng, khiến cho Bàng quang khí hoá, ước thúc được nước tiểu, trở lại như bình thường.

Tâm Thận Suy Tổn, Chuyển Đạt Thất Độ: Lúc ngủ thì tiểu tự ra, tiểu đêm hoặc tiểu không tự chủ, tinh thần uể oải, hồi hộp, hay quên, tâm phiền, gầy ốm, da mặt ửng đỏ, lưng đau, lưỡi nhạt, ít rêu hoặc đầu lưỡi đỏ, mạch Trầm Tế hoặc Sác.

ĐIỀU TRỊ: Điều bổ Tâm Thận, cố nhiếp, súc niệu.

Dùng bài Tang Phiêu Tiêu Tán gia vị: Tang phiêu tiêu, Long cốt, Mẫu lệ, Nhân sâm, Viễn chí, Bồ hoàng, Phục long, Quy bản, Đương quy.

Đây là bài Tang Phiêu Tiêu Tán thêm Quy bản. Trong bài Tang phiêu tiêu bổ Thận, cố nhiếp, súc niệu; Long cốt, Mẫu lệ súc niệu, an thần; Nhân sâm bổ Tâm, ích trí; Bồ hoàng khai Tâm khiếu; Phục linh, Viễn chí giao thông Tâm Thận; Quy bản, Đương quy tư âm, dưỡng huyết.

Nếu Tâm Thận bất giao, quân hoả, tướng hoả vượng, cần tư Thận thuỷ, giáng Tâm hoả, giao thông Tâm Thận, dùng bài Hoàng Liên A Giao Thang gia giảm: Hoàng liên, A giao, Bạch thược, Quy bản, Hoàng bá, Nhục quế, Dạ giao đằng, Viễn chí.

Hoàng liên tả quân hoả; Hoàng bá tả tướng hoả; Nhục quế dẫn hoả quy nguyên ngăn ngừa các vị thuốc hàn lương thái quá; Bạch thược, Quy bản, A giao dục âm, thanh nhiệt; Dạ giao đằng ích trí, an thần, giao thông Tâm Thận.

Can Thất Sơ Tiết, Thấp Nhiệt Hạ Chú: tiểu nhiều, tiểu không tự chủ, nước tiểu ít, đỏ, dễ tức giận, hông sườn chướng đau, lưng cứng, thân nhiệt thấp, lưỡi đỏ sậm rêu lưỡi vàng nhạt hoặc hơi nhờn, mạch Huyền Sác hoặc Hoạt Sác.

ĐIỀU TRỊ: Thanh tả uất nhiệt ở Can kinh.

Dùng bài Long Đởm Tả Can Thang gia giảm: Long đởm thảo, Hoàng cầm, Sài hồ, Sơn chi, Trạch tả, Xa tiền tử, Mộc thông, Đương quy, Sinh địa, Cam thảo.

Long đởm thảo, Hoàng cầm, Sài hồ, Sơn chi thanh tả hoả ở Đởm; Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử thanh nhiệt, lợi thấp, dẫn nhiệt đi xuống; Đương quy, Sinh địa dưỡng huyết; Sài hồ sơ Đởm, dẫn thuốc vào kinh, khiến cho thuốc đến phần bệnh.

Hạ Tiêu Súc Huyết, Huyết Khí Bất Tuyên: tiểu nhiều, tiểu không tự chủ, nước tiểu ra nhỏ giọt không hết hoặc đục thành cục, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ huyết, mạch Sáp hoặc Tế Sác.

ĐIỀU TRỊ: Hoạt huyết, hoá ứ, tuyên sướng khí cơ.

Dùng bài Thiếu Phúc Trục Ứ Thang

Quy, Khung, Xích thược, Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Một dược để hoạt huyết khứ ứ. Phối hợp với Huyền hồ, Tiểu hồi để lý khí.

Nếu ứ nhiệt dẫn đến bị kết lại, biểu hiện tiểu khó, nước tiểu đỏ, bụng dưới đau như kim đâm, rêu lưỡi vàng nhờn, thêm Chi tử, Hoàng liên, Hoàng bá để thanh nhiệt.

Bài Thuốc Kinh Nghiệm

Từ hà xa 30g, Kê nội kim 50g, Trư phu 30g, sấy khô, tán bột. Mỗi lần uống 2-3g, ngày 2 lần (Trung Y Cương Mục).

Phong phòng (tổ ong), sấy khô, tán bột, mỗi lần dùng 3-5g, thêm ít đường phèn, hoà nước uống, ngày 2 lần (dùng trị tiểu không tự chủ do Thận dương bất túc) (Trung Y Cương Mục).

Tang phiêu tiêu, Ích trí nhân, lượng bằng nhau, tán bột, uống với nước cơm (dùng trị tiểu nhiều do Tỳ Thận khí hư) (Trung Y Cương Mục).

Châm Cứu

Khí hải, Quan nguyên, Âm lăng tuyền, Đại Đô (Ty.2), Hành Gian (C.2) (Loại Kinh Đồ Dực).

Thần môn, Ngư Tế (P.10), Thái Xung (C.3), Đại Đô (Ty.2), Quan nguyên (Thần Ứng Kinh).

Quan nguyên, Trung phủ, Thần môn (Phổ Tế Phương).

Châm Cứu Học Thượng Hải: Bổ Thận, ích khí.

Huyệt chính: Quan nguyên, Tam Âm Giao.

Huyệt phụ: Bá hội, Khí hải, Trung cực, Âm lăng tuyền, Thận du, Tỳ du, Túc tam lý, Liệt khuyết.

Cách châm: Kích thích vừa hoặc mạnh.

Huyệt ở vùng bụng phải tạo được cảm giác lan xuống âm bộ, hướng kim phải xiên xuống.

Huyệt ở chân phải tạo được cảm giác lan lên trên. 10 - 15 ngày là 1 liệu trình, 2 liệu trình cách nhau 3-5 ngày.

Tỳ hư thêm Tỳ du, Túc tam lý .

Thận hư thêm Thận du, Bá hội, Khí hải.

Phế Khí không đều thêm Liệt khuyết, Âm Lăng Tuyền.

3 huyệt Quan nguyên, Khí hải, Trung cực có thể lần lượt sử dụng hoặc cũng có thể dùng cách xuyên châm các huyệt này.

Ý nghĩa: Quan Nguyên là huyệt Hội của 3 kinh Âm ở chân với mạch Nhâm, để bổ Thận; Tam Âm Giao bổ khí của 3 kinh Âm để tăng cường tác dụng kềm chế của Bàng Quang. Tỳ hư thêm Tỳ Du, Túc Tam Lý để kiện Tỳ ích khí; Thận hư thêm Thận Du, Khí Hải để bổ thận; Bá Hội đưa dương khí lên; Liệt Khuyết, Âm Lăng Tuyền để điều tiết thủy đạo; Trung Cực để điều chỉnh khí hư.

Thận Nguyên Hư: Quan nguyên, Thận du, Khí hải, Trung cực, Dương lăng Tuyền (Đ.34), Tam âm giao, đều bổ.

Tỳ Hư Bất Nhiếp: Tỳ du, Túc tam lý, đều bổ (Châm Cứu Trị Liệu Học).

Nhóm 1: Châm Thận du, Khí hải, Bàng quang du, Quan nguyên, Tam âm giao, Trung cực, Âm lăng tuyền, Đại đô, Túc tam lý, Phục lưu, Ẩn bạch, Trường cường, Hội dương.

Nhóm 2: Cứu Bàng quang du, Tam âm giao, Trường cường, Hội âm đều 5 tráng (Lâm Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học).

Mệnh môn, Khúc cốt, Trung cực, Quan nguyên, Khí hải, Thiếu phủ, Thái ất, Tam tiêu du, Thận du, Quan nguyên du, Tiểu trường du, Tam âm giao, Âm lăng tuyền, Cơ môn, Đại đô, Âm bao, Ngũ lý, Thái khê, Hoành cốt, Trường phong (Châm Cứu Học HongKong).

Điều bổ khí cơ của Thận và Tam Tiêu: châm bổ Bàng quang du, Trung cực, Tam tiêu du, Thận du (Châm Cứu Học Việt Nam).

Châm Quan nguyên sâu 0,5 - 1 thốn. Phối hợp châm xiên huyệt Bá hội, hướng kim về phía trước, lưu kim 30 phút. Cứ 5 phút lại vê kim 1 lần (Trung Quốc Châm Cứu Tạp chí số 34/1985).

Quan nguyên, Tam âm giao. Lưu kim 10 - 15 phút. Mỗi ngày hoặc cách ngày châm 1 lần. 3 - 6 lần châm là 1 liệu trình (Hồ Nam Trung Y Tạp chí số 37/1986).

Huyệt chính: Trung cực, Quan nguyên, Thận du, Bàng quang du, Tam âm giao.

Huyệt phụ: Khí hải, Quan nguyên du, Thứ liêu, Túc tam lý, Đại đô, Thần môn, Chiếu hải. Vừa châm vừa cứu, kích thích nhẹ, lưu kim 15 - 20 phút. Trẻ nhỏ không lưu kim, cứu theo kiểu chim sẻ mổ, cho đến khi da đỏ lên thì thôi. Cách 1 ngày hoặc 1 ngày 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình (Giang Tô Trung Y Tạp Chí năm 1995).

Huyệt chính: Quan nguyên, Trung cực, Tam Âm Giao.

Huyệt phụ: Hợp cốc, Khúc cốt, Đại chuỳ, Bàng quang du .

Mỗi lần dùng 3 - 5 huyệt. Vê kim cho có cảm giác tê tức, châm Quan Nguyên, Trung Cực phải tạo được cảm giác lan tới âm bộ hiệu quả sẽ tốt hơn. Dùng điếu ngải, hơ 10 - 15 phút. Mỗi ngày 1 lần, 16 lần là một liệu trình (Giang Tô Trung Y Tạp Chí năm 1995).

Thận Dương Hư: ôn bổ Thận Dương. Châm bổ, cứu Thận du, Quan nguyên, Tam âm giao, Bàng quang du, Thứ liêu .

Phế Thận Đều Hư: ôn bổ Phế Thận. Châm bổ Phế du, Cao hoang du, Thận du, Khí hải.

Tỳ Thận Đều Hư: bổ trung ích khí: châm bổ, cứu Tỳ du, Túc tam lý, Thận du, Trung cực, Bá hội (Thực Dụng Châm Cứu Đại Toàn).ĐNNiệu Huyết - Hematuria - HématurieLà chứng do nhiều nguyên nhân bệnh ở đường tiết niệu gây ra.

Được mô tả trong phạm vi chứng Ngũ Lâm (Huyết Lâm), Niệu Huyết của Đông y.

Có thể tiểu ra máu đại thể: mắt thường trông thấy được, máu ra đỏ tươi lẫn cục máu đã đông hoặc nước tiểu mầu hồng. Có thể tiểu ra máu nhẹ, mắt thường không phân biệt được với nước tiểu sẫm mầu. Gọi là tiểu ra máu vi thể vì phải soi kính hiển vi căn nước tiểu mới phân biệt được. Để xác định là tiểu ra máu vi thể thì lượng hồng cầu trong nước tiểu phải trên 4 triệu/24 giờ.

Ở phụ nữ, để chẩn đoán tiểu ra máu phải lấy nước tiểu bằng thông bàng quang để khỏi lẫn với ra máu do rối loạn kinh nguyệt.

Bệnh Án

BỆNH ÁN TIỂU KHÔNG TỰ CHỦ

(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q. Hạ)

Hầu XX, nữ, 73 tuổi, sơ chẩn ngày 16-10-1977. Kể tiểu tiện không kìm được đã 4 năm. Trước đó 4 năm bệnh nhân đi tiểu vặt không rõ nguyên nhân, nước tiểu trong, lưng đau, đùi yếu, ho nhiều, hơi thở ngắn, toàn thân mệt mỏi, tay chân lạnh, sợ rét, sau đó bệnh tình tăng dần, tiểu tiện không tự chủ được, có nước tiểu là rỉ không kể ngày hay đêm, ba năm nay chưa từng vào nhà vệ sinh đi tiểu, rất khổ sở. Khám thấy mặt trắng bệch, ủ rũ, nói yếu, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch Trầm Nhược, hai mạch xích càng Nhược. Đây là Thận khí bất túc, Thận dương suy vi, bàng quang không chế ước được, phải trị bằng phép bổ ích Thận khí, ôn bổ Thận dương. Dùng bài Củng Đề Thang Gia Giảm (Bổ cốt chỉ 20g, Cửu tử 15g, Thỏ ti tử 20g, Bạch truật 15g, Phục linh 15g, Phụ tử 15g, Quế chi 10g, Ba kích 20g, Đảng sâm 15g, Thục địa 20g, Ích trí nhân 10g, Sa nhân 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang). Uống được 5 thang, bệnh tình cải thiện rõ rệt. Uống tiếp bài trên gia giảm, tất cả 16 thang thì khỏi bệnh.

Bàn luận: Thận là gốc của tiên thiên, là nguồn sinh để phát dục của con người có quan hệ mật thiết với các tổ chức phủ tạng khác. Thận với Bàng quang có quan hệ biểu lý với nhau, sự đóng mở của Bàng quang do Thận quản lý, dựa vào sự khí hoá của Thận cho nên nói là 'Thận chủ nhị tiện' vậy. Chỉ cần Thận khí đầy đủ chức năng khí hoá bình thường thì bàng quang đóng mở bình thường, Thận khí mà hư, khí hoá không tốt ắt Bàng quang không chế ước được, cho nên tiểu tiện nhiều lần, thậm chí không kìm được. Khí là dương, nếu Thận khí hư nhược, tất nhiên dẫn đến chỗ Thận dương bất túc, cho nên sinh ra một loạt các biểu hiện hư hàn như ghê lạnh, mặt bệch, lưỡi nhạt, mạch Trầm. Do đó có thể thấy bệnh này tuy ở Bàng quang mà gốc lại ở Thận. Trị bệnh phải dựa trên nguyên tắc tìm đến gốc, do đó phải bổ ích Thận khí, ôn bổ Thận dương, Thận khí khôi phục được, Thận dương bổ được, thì chứng bàng quang thất ước tự khỏi. Trong bài thuốc có Cốt chỉ, Cửu tử. Thỏ ti tử, Ba kích, Thục địa đều là các thứ bổ Thận, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh để ích khí kiện Tỳ, phù thổ chế thuỷ, Phụ tử, Quế chi ôn bổ Thận dương, lại thêm Sa nhân để ngừa vị ngọt của các thuốc. Phép chữa và thuốc tương ứng với nhau làm các chứng đều tan, bệnh khỏi nhanh.

BỆNH ÁN TIỂU KHÔNG TỰ CHỦ

(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q. Hạ)

Trịnh XX, nữ, 30 tuổi, sơ chẩn ngày 20-12-1971. Bệnh nhân mặt trắng nhạt, không tự kiềm chế tiểu tiện được. Mạch yếu, rêu lưỡi mỏng. Sau khi khám cho dùng Gia vị Bổ Trung Ích Khí Thang (Hoàng kỳ 12g, Ích trí nhân 9g, Sài hồ 4,5g, Đảng sâm 12g, Tang phiêu tiêu 9g, Trần bì 4,5g, Đương quy 9g, Phúc bồn tử 12g, Thăng ma 4,5g, Cam thảo 6g, Bạch truật 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang). Uống liền 5 thang, sắc mặt người bệnh trở lại bình thường, các chứng giảm. Duy vẫn còn mạch yếu, rêu lưỡi mỏng. Bài thuốc trên có gia giảm uống thêm 5 thang để củng cố hiệu quả.

BÀN LUẬN: Dùng bài thuốc Bổ Trung Ích Khí Thang thêm Tang phiêu tiêu, Phúc bồn tử, Ích trí nhân để bổ Thận cố nhiếp nên kết quả nhanh chóng.xTiểu Ra Máu Do Các Bệnh Nhiễm Khuẩn, Nhiễm Độc Dị Ứng:

Thường là tiểu ra máu vi thể, ít khi ra máu đại thể.

Trong ngộ độc thuốc chống đông có thể gây tiểu ra máu đại thể.

Bệnh bạch cầu, bệnh gan cũng gây tai biến tiểu ra máu.

Tiểu Ra Máu Dưới Bàng Quang (do niệu đạo, tiền liệt tuyến): Để xác định rõ, người ta dùng nghiệm pháp 3 ly: Buổi sáng mới thức dậy, bảo người bệnh tiểu vào 3 ly riêng biệt. Nếu ly nước tiểu đầu lẫn nhiều máu hơn 2 ly kia, kèm tiểu buốt, tiểu khó thì nguyên nhân do sỏi niệu đạo, ung thư tiền liệt tuyến.

Tiểu Ra Máu Do Bàng Quang: Thường ly cuối cùng lẫn nhiều máu hơn vì bàng quang co bóp tống những cặn máu còn đọng ra. Nguyên nhân do sỏi, đa số do ung thư bàng quang. Ở phụ nữ có thể do bàng quang bị viêm loét.

Tiểu Ra Máu do bệnh Thận: Nước tiểu cả 3 ly đều đỏ. Tiểu ra máu kèm cơn đau dữ dội từ vùng thận lan xuống đường tiểu, thường do sỏi thận di chuyển.

Cũng có thể chú ý đến:

Nước tiểu đỏ ngay khi bắt đầu tiểu và đỏ suốt thời gian tiểu, nên nghĩ đến:

Sỏi đường tiểu: vì sỏi làm chảy máu và rách màng da trong các ống dẫn tiểu. Máu chảy ở những chỗ này hoà lẫn với nước tiểu thành mầu vàng sẫm hoặc đỏ nhạt.

Lao thận: Máu hoà lẫn với nước tiểu một cách bất ngờ. Người bệnh có thể vẫn thấy mình khoẻ mạnh, không bệnh mà tự nhiên tiểu đỏ. Có thể kèm theo tiểu gắt, buốt khi tiểu.

Nước tiểu lúc đầu không đỏ nhưng về cuối khi tiểu gần xong mới đỏ, trường hợp này bệnh nhân tiểu khó và ít tiểu: nên nghĩ đến bệnh về bàng quang như sỏi bàng quang, lao bàng quang, ung thư bàng quang.

Nước tiểu đỏ ngay lúc đầu nhưng về sau lại trong, tiểu xong rất rát nhưng không rát khi tiểu. Nên nghĩ đến nhiễm trùng đường tiểu, lao tiền liệt tuyến, ung thư tiền liệt tuyến.

Ung thư thận: Tiểu đỏ bất ngờ, hết rồi lại bị, cứ như vậy nhiều lần. Thường cảm thấy đau lưng và có cảm tưởng thận cứng lại.

Bể thận viêm, cầu thận viêm đều gây ra tiểu ra máu vi thể, kèm tiểu ra bạch cầu, protein nhẹ hoặc trung bình.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học