🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Viêm Da Thần Kinh Bệnh Học

Viêm Da Thần Kinh (Đối Chiếu Bệnh Danh: Ngưu Bì Tiên, Nhiếp Ảnh Sang, Can Tiên - Thần Kinh Tính Bì Viêm - NeurodermatitissViêm da thần kinh là).

Đại Cương

Viêm da thần kinh là một loại bệnh ngoài da thường gặp, phát sinh ở cổ và dày cứng như da cổ trâu nên có tên gọi là Ngưu bì tiên. Là loại bệnh mạn tính, phát triển chậm, dễ tái phát. Đặc điểm của bệnh là ngứa cực kỳ từng đợt, phát bệnh nhiều ở cổ và mặt duỗi của tay chân, tỉ lệ mắc bệnh cao ở tuổi tráng niên.

Thường phát ở vùng đầu, mi mắt, gáy, lưng, vai, mặt trước ngoài cánh tay, lưng và bộ phận sinh dục.

Vết tổn thương thường có tính đối xứng.

Còn gọi là Ngoan Tiễn, Thấp Tiễn, Can Tiễn, Phong Tiễn, Đao Tiễn, Ngưu Bì Tiễn, Lại Bì Phong.

Nguyên Nhân

Căn nguyên của bệnh chưa rõ. Theo Y Học Hiện Đại có nhiều thuyết như rối loạn thần kinh trung khu, thần kinh thực vật, rối loạn trao đổi chất, rối loạn chuyển hoá, nội tiết, dị ứng. Theo Y Học Cổ Truyền, nguyên nhân cơ chế bệnh có thể giải thích như sau :

Do thấp nhiệt ứ trệ tại cơ bì làm cho khí huyết bị rối loạn gây nên bệnh.

Bệnh lâu ngày gây tổn thương âm dịch, dinh huyết không đủ, huyết hư gây nên phong sinh táo khiến cho da thịt kém tươi nhuận.

Huyết hư can vượng, tinh thần căng thẳng, thường xuyên bị kích thích, lo lắng, buồn phiền, bực tức khiến cho khí huyết mất điều hoà gây nên bệnh.

Chẩn Đoán

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào triệu chứng: đám sần dày cứng như da cổ trâu, sờ vào như gỗ khô, ngứa dữ dội.

Thường phát sinh ở vùng cổ, mặt duỗi chân tay, mí mắt, vùng thắt lưng, vùng cùng cụt, đối xứng hoặc thành hàng, có thể bị toàn thân.

Thường gặp ở những người tinh thần căng thẳng thường xuyên, người lớn ít ngủ, bệnh kéo dài.

Chẩn đoán Phân biệt : Cần phân biệt với :

Chàm: Không có sần cứng như da trâu, phát sinh thường ở mặt gấp của chi, có mụn nước và loét.

Lichen bột: Có tổn thương sần sừng, sần cục hình bán cầu hoặc hình nón, màu nâu xám, hồng nhạt hoặc như da bình thường, sần to bằng hạt đậu xanh cụm vào nhau không cứng như da trâu, thường khu trú ở mặt trước cẳng chân, ngứa ít.

Biện Chứng Luận Trị

Tổn thương căn bản là những nốt sần tập họp thành đám, thường khu trú ở mặt duỗi các chi, hai bên cổ, tính chất thường đối xứng. Đám sần mới đầu còn ít, càng ngứa càng gãi và lan rộng, thường ngứa từng cơn dữ dội, nhất là về đêm. Dần dần vùng da ngứa bị gãi nhiều thành đỏ sẫm, hơi nhăn, hơi cộm, nổi những sần dẹt, bóng, sau đó thành một đám hình bầu dục hoặc thành hình nhiều cạnh hoặc vệt dài, mầu da thường nâu nhạt, khô và cứng, bề mặt bóng. Do gãi nhiều mà da có thể sinh viêm nang lông, lở loét. Đám viêm da thần kinh có thể đơn độc hoặc đối xứng (viêm da thần kinh khu trú) hoặc rải rác nhiều nơi (viêm da thần kinh tàn phát), tiến triển hàng tháng,g hàng năm, dễ tái phát, ngày càng cộm, càng sẫm màu, lằn cổ trâu càng rõ. Khi khỏi thường để lại vết sẫm màu hoặc bạc màu dạng bạch biến.

Căn cứ vào các giai đoạn của bệnh, có thể chia làm hai thể:

Thể Phong Nhiệt (Giai đoạn mới bệnh): Da mới bị viêm, mầu hơi hồng, ngứa, da còn mỏng.

ĐIỀU TRỊ: Khu phong, thanh nhiệt.

Tiêu Phong Tán gia giảm (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu): Kinh giới, Sinh địa, Phòng phong, Ngưu bàng tử, Đương quy, Tri mẫu, Địa phu tử đều 12g, Thuyền thoái 6g.

Sơ Phong Thanh Nhiệt Ẩm gia giảm (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu): Kinh giới, Sinh địa đều 16g, Phòng phong, Kim ngân, Cúc hoa, Tạo giác thích, Khổ sâm đều 12g, Thuyền thoái 6g, sắc uống.

Thuốc Bôi

Phèn chua phi (tán nhỏ) 5g, Lưu huỳnh 25g, Khinh phấn 5g, Cồn 70o 300ml. Thuốc tán thành bột, ngâm với cồn trong một tuần. Lắc kỹ trước khi dùng. Ngày bôi 3-6 lần.

Thể Huyết Táo (thể mạn tính): Da dầy, khô, ngứa nhiều về đêm, khi gãi chảy nước và thấm máu.

ĐIỀU TRỊ: Dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong.

Địa Hoàng Ẩm Tử gia giảm (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu): Hà thủ ô, Sinh địa đều 16g, Đương quy, Huyền sâm, Kinh giới, Bạch tật lê đều 12g, Cương tằm 8g, Toàn yết 6g.

Thuốc Bôi

Phèn chua phi (tán nhỏ) 5g, Lưu huỳnh 25g, Khinh phấn 5g, Cồn 70o 300ml. Thuốc tán thành bột, ngâm với cồn trong một tuần. Lắc kỹ trước khi dùng. Ngày bôi 3-6 lần.

Các phương pháp khác:

Bài thuốc kinh nghiệm:

Phòng phong, Thương nhĩ tử, Kê huyết đằng, Cây cứt lợn đều 12g, Sinh địa, Ý dĩ, Kim ngân hoa đều 16g, sắc uống.

Cúc hoa, Kim ngân hoa, Thương nhĩ tử, Khổ sâm đều 12g, Sinh địa 16g, Đơn bì 8g, sắc uống. Hai bài này dùng cho thể phong nhiệt.

Kê huyết đằng, Đậu đen (sao), Cây cứt lợn, Cam thảo, Sa sâm, Kỷ tử đều 12g, Kinh giới 16g, Xác ve 6g, Bạch cương tàm 8g sắc uống.

Hà thủ ô, Bạch cương tàm 8g, sắc uống, 2 bài này dùng cho thể huyết táo.

Thuốc bôi ngoài

Phèn phi 5g, Lưu huỳnh 25g, Khinh phấn 5mg, tán nhỏ, ngâm với cồn 70 độ trong 1 tuần, lắc kỹ khi bôi, 3-6 lần trong ngày.

Châm cứu:

Châm chung quanh da bị bệnh ngày 1 lần, sau khi châm có thể kết hợp cứu. Có thể dùng điếu Thương truật, Thiên niên kiện cứu và xông khói mỗi lần 30 phút, ngày 2 lần.

Những huyệt chủ yếu là Uỷ trung (VII.40) và Phong môn (VII 12).

Ở chi trên thêm Khúc trì (II. 11); Ở mặt thêm Hợp cốc (II.4) và Nghinh hương (II.20); Đối với chi dưới thêm Phong trì (XI 20), Tam âm giao (IV.6) hoặc Huyết hải (IV. 10); Ở thành bụng, ngực và nách thêm Túc tam lý (III.36) và Dương lăng tuyền (XI.34).

TIẾN TRÌNH: Khi châm huyệt Uỷ trung vê kim nhanh. Khi châm Phong môn, véo da lên bằng ngón cái và ngón trỏ tay trái, rồi châm kim nhanh bằng tay phải và châm xiên ngang đến Phế du, sâu từ 1 - 1,5 thần. Lưu kim từ 1 - 2 giờ. Không thực hiện thao tác nào trong suốt thời gian châm hoặc lưu kim. Đối với Dương lăng tuyền và Túc tam lý châm kim ngang sâu 1,5 – 2 thốn. Hướng châm và độ sâu các huyệt khác là:

Huyết hải châm ngang và hướng lên trên sâu 1 - 1,5 thốn

Tam âm giao châm ngang và hướng xuống sâu 1 - 1,5 thốn.

Khúc trì châm xuyên xuống Thủ tam lý sâu 1 - 1,5 thốn.

Nghinh hương châm xuyên đến Tứ bạch sâu 0,5 - 1 thốn.

Lưu kim tại các huyệt trên từ 1 - 2 giờ. Có thể cứu trên vùng ngứa trong khi lưu kim. Phương pháp cứu giống như trong phương huyệt 1.

Ngày châm một lần. 4 lần làm một liệu trình và khoảng cách giữa hai liệu trình từ 1- 2 ngày (Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm).

Huyết Nhiệt Sinh Phong: Thanh nhiệt lương huyết, sơ phong, chỉ dưỡng. Châm Huyết hải, Bách trùng sào, Đại chuỳ, Thái xung, Ngư tế, Khổng tối.

Huyết Hư Phong Táo: Dưỡng huyết tức phong. Châm Cách du, Huyết hải, Thần môn, Thái bạch, Túc tam lý,Tỳ du, Can du.

Phong Tà Trói Buộc Lâu Ngày: Sơ phong giải biểu, chỉ dưỡng. Châm Phong trì, Khúc trì, Phong thị, Huyết hải, Xích trạch, Ngoại quan (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

Nhĩ Châm

Thần môn, Thượng thận,, Bì chất hạ,Phế, Đại trường, Quá mẫn điểm (Dị ứng điểm), Tỳ, Can. Dùng thuốc (Vương bất lưu hành) dán vào huyệt. Cách ngày dán một lần, 10 ngày là một liệu trình (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

Bệnh Án

BỆNH ÁN VIÊM DA THẦN KINH

(Trích trong Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm của Tôn Học Quyền)

Bệnh nhân Lý, nam, 42 tuổi nhập điều trị ngoại trú ngày 8/9/1976.

Viêm da thần kinh khu trú ở mặt trước ngoài cẳng chân phải với một vùng rộng khoảng 1,5 - 2 cm. Bờ thương tổn rõ. Các thương tổn có màu hơi nâu và bề mặt rất sân sùi, ngứa không thể chịu được, có nhiều mảng sắc tố và vết loét do gãi. Bệnh nhân đã được điều trị ở những bệnh viện khác, nhưng không thấy hiệu quả.

Bệnh nhân được điều trị ở khoa ngoại trú của tác giả theo phương huyệt: A thị huyệt.

Dùng hào châm xuyên từ bờ sẩn da vào chính giữa thương tổn. Đập và vê kim trong suốt khi châm, 2 - 3 lần đập cho mỗi lần châm cho đến khi chảy ít máu ở bờ thương tổn. Cứu thực hiện ngay sau khi đập.Thường cảm thấy ngứa dữ dội 5 - 15 phút sau khi áp dụng cứu. Cứu được tiếp tục tiến hành cho đến khi hết ngứa. Ngày châm và cứu một lần. 7 lần là một liệu trình. Ngứa giảm rõ sau 4 lần châm. Chứng ngứa và các triệu chứng khác hết hẳn sau 2 liệu trình điều trị.

BỆNH ÁN VIÊM DA THẦN KINH

(Trích trong Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm của Tôn Học Quyền)

Bệnh nhân Hàn, nữ. 53 tuổi, nhập điều trị ngoại trú ngày 7/6/1978. Bệnh nhân bị viêm da thần kinh thể lan toả đã hơn 3 năm nay. Những sẩn hình tròn xuất hiện trên khắp thân thể và tứ chi. Sẩn có màu hơi đỏ, dính chùm và phân thành đối xứng. Những sẩn ở mặt ngoài cánh tay và mặt trước ngoài cẳng chân, nổi lên từng mảng có vảy sùi, có cảm giác ngứa. Thấy có nhiều vết trầy sướt gây ra do gãi trên khắp bề mặt cơ thể.

Bệnh viện khác đã chẩn đoán là viêm da thần kinh.

ĐIỀU TRỊ: châm Phong môn, Uỷ trung, Khúc trì, Tam âm giao, Túc tam lý và lưu kim trong 2 giờ. Những vùng ngứa ở tay chân thì dùng phép cứu.

Mỗi ngày châm cứu một lần, 7 lần là một liệu trình. Cảm giác ngứa giảm nhẹ sau liệu trình thứ nhất, không thấy xuất hiện thêm sẩn mới nào. Sau liệu trình thứ hai, cảm giác ngứa giảm rõ và sự lan toả của sẩn cũng giảm. Ngứa hết hẳn sau liệu trình thứ ba và 80% sẩn biến mất chỉ còn lại ít mảng sắc tố.

Việc điều trị thêm được thực hiện cách ngày một lần trong 5 lần: sau đó các triệu chứng hết hẳn. Không thấy tái phát sau nửa năm.

Tham Khảo

Thạch Cao Phù Bình Thang (Trung Y Tạp Chí 12 1965): Thạch cao (sống) 30g, Phù bình, Hoàng cầm đều 6g, Sinh địa 12g, Đơn bì 9g, Bạch tiên bì, Liên kiều, Thương nhĩ tử, Sơn chi, Xích thược đều 10g, Thuyền thoái 5g, Cam thảo 3g. Sắc uống ngày 3 lần.

Tác Dụng: Thanh nhiệt giải độc, khu phong chỉ dưỡng, hoạt huyết trừ thấp. Trị thần kinh da viêm (do phong thấp nhiệt gây nên).

Kiện Tỳ Hoá Thấp Thanh Kim Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Hạ): Đảng sâm 12g, Vân linh, Bạch truật, Sơn dược, Huyền sâm, Kê nội kim đều 9g, Ý dĩ nhân 15g, Hoàng cầm, Bạch cập, Cam thảo đều 6g. Sắc uống ngày 2 lần.

Tác Dụng: Kiện Tỳ hoá thấp. Trị thần kinh da viêm.

Đã trị 50 ca đều khỏi hẳn.

Tử Thảo Hợp Tễ (Giang Tô Trung Y Tạp Chí 6, 1990): Tử thảo 30g, Đưiơng quy, Mạch môn, Huyền sâm, Kinh giới, Phòng phong, Bạch tiên bì đều 10g, Sinh địa 15g, Cam thảo 5g. Sắc uống.

Tác Dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, tư âm tả hoả, khứ phong chỉ dưỡng. Trị phong tiễn (Mai côi đường chẩn).

Đã trị 26 ca, khỏi hoàn toàn 20, khỏi ít 2, có kết quả 3, không kết quả 1. đạt tỉ lệ 96,1%. Uống từ 1-2 tuần.

Dự Phòng Và Điều Dưỡng

Tránh mặc áo cổ cứng.

Kiêng rượu và các chất cay nóng, mỡ.

Giữ tinh thần thanh thản không lo nghĩ, buồn phiền, kiềm chế sự bực bội tức giận.

Bảo đảm vệ sinh da, chống nhiễm khuẩn lúc châm cứu.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học