Tên Hán: 白前 · Pinyin: Bái Qián · Tên khoa học: Rhizoma et Radix Cynanchi Stauntonii · Họ khoa học: Thiên lý (Asclepiadaceae). · Bộ phận dùng: thân rễ và rễ · Xuất xứ: Biệt lục.
Tính: Hơi ôn · Vị: Tân, Khổ · Quy kinh: Thủ Thái Âm Phế
Nhóm dược lý: Chỉ Khái Bình Suyễn
Loài rau mọc ở đồi núi, mùa hè thu có hoa hồng nhạt hoặc trắng tùy từng thứ.
TÍNH VỊ:
Vị ngọt, hơi ôn, không độc (Biệt lục).
Vị cay ngọt, tính hơi ấm (Trung Quốc dược học đại tự điển).
Vị cay đắng, tính hơi hàn (Đông dược học thiết yếu).
QUY KINH:
Vào kinh thủ Thái âm (Phế) (Bản thảo cương mục).
Vào kinh Can, Phế (Bản thảo tái tân).
Vào kinh Phế (Trung Quốc dược học đại từ điển).
Vào kinh Phế (Đông dược học thiết yếu).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
Chủ hông sườn có nghịch khí, ho nghịch lên (Biệt lục).
Giáng khí, hạ đờm (Bản thảo cương mục).
Tuyên phế, giáng khí, hạ đàm, chỉ khát, dùng làm thuốc khử đàm, giảm ho. Trị ho suyễn, đàm nhiều (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tuyên thông Phế khí, giáng khí, hạ đờm, chỉ khái. Trị Phế khí bế tắc thuộc thực chứng, ho, ngực đầy tức, ngày đêm không nằm xuống được (Đông dược học thiết yếu).
LIỀU DÙNG:
3–9g, dùng ngoài tùy ý.
KIÊNG KỴ:
Không có thực tà cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
Không có thực tà ủng tắc ở Phế thì không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
ĐỊA LÝ:
Cây hiếm thấy ở Việt Nam.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Thân và rễ.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Dùng rễ, thân rễ và thân trên mặt đất (dùng thân trên mặt đất là chính). Phần lớn thương phẩm của Bạch tiền là thân trên mặt đất đã bỏ lá và rễ, rễ và rễ phụ rất ít. Thân trên mặt đất hình viên trụ giữa trống như ống dài khoảng 6–9cm đến 12–20cm, thô khoảng 1,5–6m. Bên ngoài màu xám vàng hoặc màu nâu nhạt, có vết nhăn dọc nhỏ, đồng thời có đấu lá mọc đối rõ ràng hơi lồi lên, hơi thể hiện hình bán vòng, ngoài ra còn có vết mềm mặt cắt của thân rễ giống như miệng vịt thành ống trong màu trắng, vùng gốc thân trên mặt đất nối liền thân rễ mọc xiên, hình đốt phình to mọc tỏa nhiều rễ dạng phụ phần lớn rơi rụng chỉ để lại dấu vết thân bên ngoài, rễ màu vàng nâu hoặc màu đỏ nâu. Vùng đốt bẻ ngang và màu trắng bên trong chắc phần giữa đốt bẻ gãy thường là dạng ống thành ống dày hơn. Rễ Bạch tiền đặc, mềm, khô, trắng không mọt là tốt.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Giữa tháng 2–8, chọn rễ, phơi trong râm cho khô. Loại khô dòn, không củ là thứ tốt.
BÀO CHẾ:
Theo Trung Y: Đào lên bỏ thân và rễ con, rửa sạch đất cát, tước bỏ lõi, phơi khô thái nhỏ, để nguyên rễ, không bỏ lõi, chỉ cạo sạch vỏ đen ngoài, phơi khô dùng.
Ngâm nước Cam thảo, sao khô. Khi bào chế Bạch tiền, cần dùng nước Cam thảo sống ngâm 1 giờ, rồi lấy ra khử đầu, lông, sấy khô mà dùng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, thái khúc ngắn 2 – 3 cm, phơi khô (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
BẢO QUẢN:
Để nơi khô ráo.
Trị ho lâu ngày khạc ra máu: Bạch tiền, Cát cánh, Tang bạch bì đều 90g, Chích cam thảo 30g sao với mật, đổ vào 6 tô nước, sắc còn 1 tô, chia làm 3 lần uống. Kiêng thịt heo, rau cải thìa (Ngoại Đài Bí Yếu).
Trị ho nghịch lên, khí nghịch lâu ngày, người nặng nề thở ngắn, bụng căng đầy, ban đêm ngồi không nằm được, thở khò khè như gà kêu: Bạch tiền 60g, Tử uyển, Bán hạ đều 90g, Đại kích 7 chén, ngâm với 1 đấu nước trong 1 đêm, sắc với 3 thăng nước, chia làm nhiều lần uống, không được ăn thịt dê và kẹo mạch nha (Bạch tiền thang – Thiên Kim Phương).
Trị ho lâu ngày, trong họng khò khè, không nằm được: Bạch tiền, giã nát, hòa với rượu ấm, uống (Mai Sư Kinh Nghiệm Phương).
Trị viêm khí quản, hen suyễn: Bạch tiền, Khoản đông mỗi thứ 6g, Ma hoàng 3g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Trị ho suyễn do phế nhiệt, đàm vàng dính, ho khó ra, rêu lưỡi vàng khô, tiểu vàng ngắn: Bạch tiền 9g, Tang bì 9g, Sinh địa 12g, Phục linh 9g, Địa cốt bì 9g, Ma hoàng 3g, Sinh khương 6g, sắc uống (Bạch tiền thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Trị đậu sởi chưa mọc ra: Bạch tiền, lá Liễu (toàn cây), đều 120g, sắc lấy nước rửa (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Trị bị té ngã tổn thương: Bạch tiền 15g, Hương phụ 9g, Thanh bì 4g, sắc uống (Phúc Kiến Trung Thảo Dược).
Bạch tiền sinh ra ở gần đường, rễ gần giống Tế tân mà lớn, màu trắng, không mềm, dễ gẫy, thường dùng nhiều trong bệnh ho suyễn (Trửu Hậu Phương).
Bạch tiền là một vị thuốc trị ho, có sức mạnh đưa khí xuống, cốt trị về bệnh khí thực, cũng giống như vị Mã đâu linh, nhưng Mã đâu linh lạnh mà Bạch tiền khí ấm (Bách Hợp).
Bạch tiền chuyên quét trừ phong, thủy trong Phế khiếu. Tế tân có thể trị hàn tà trầm đọng ở Phế. Bạch tiền trị ho, không chuyên về ho do lạnh, chứng đờm hỏa, khí bị ngăn trở, ho nghịch lên cũng có thể ổn định được. Tế tân trị ho mà phải là ho thuộc đờm ẩm do hàn tà, là vị thuốc tân ôn khai khiếu, vì vậy không dùng rộng rãi như Bạch tiền (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Bạch tiền thiên về giáng khí, Tiền hồ khai thông trước rồi sau mới giáng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…