Xuất xứ: Thái Bình Thánh Huệ Phương, Q.7.
Tác giả: Vương Hoài Ẩn
Nguồn y văn: Cổ Đại Bổ Thận Tráng Dương Danh Phương, Thái Bình Thánh Huệ Phương, Vương Hoài Ẩn
Ôn bổ thận dương, ích phế, an thần, tán hàn, chỉ thống. Trị thận khí hư, hơi thở ngắn, ngực đau, sườn đau, lưng đau, chân đau,nhìn không rõ, gầy ốm, cơ thể không có sức.
Tán bột. Trộn với mật làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 20 viên với rượu ấm, lúc đói, trước bữa ăn.
Ba kích, Lộc nhung, Thỏ ty tử, Nhục thung dung, Bổ cốt chỉ, Xà sàng tử ôn thận, tráng dương; Phụ tử, Nhục quế, Thiên hùng, Trầm hương ôn thận, trợ dương, tán hàn, trừ thấp; Bổ cốt chỉ, Trầm hương ôn thận, nạp khí, bình suyễn; Hoàng kỳ, Ngũ vị tử, Sơn dược bổ phế, ích thận; Bạch thạch anh, Chung nhũ thạch ôn noãn phế thận, hợp với Bổ cốt chỉ để ôn bổ phế thận, nạp khí, bình suyễn; Tất trừng già, Xuyên tiêu vị cay, tính ôn, có mùi thơm, để ôn lý, trợ dương, tán trừ hàn thấp, hành khí, chỉ thống; Ngưu tất bổ can thận, cường cân cốt; Đương quy dưỡng huyết, hoạt huyết, chỉ thống; Phục linh, Viễn chí, Bá tử nhân, Mẫu lệ hợp với Ngũ vị tử có thể dưỡng tâm, an thần, cường chí; Thạch vi, Thạch trường sinh (tức Phượng vĩ thảo) thanh lợi thấp nhiệt, trừ thấp, tính nó hàn, lương, vì vậy nó có thể làm giảm bớt tính táo của các vị thuốc nhiệt, ôn (Cổ Đại Bổ Thận Tráng Dương Danh Phương).
Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…