Xuất xứ: Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương, Q.3.
Tác giả: Trần Sư Văn
Giáng khí, bình suyễn, ôn hóa hàn ẩm. Trị bệnh nhân có đờm ẩm, lại cảm ngoại hàn, thành chứng thượng thực hạ hư, ho, suyễn gấp, ngắn hơi, ngực tức, đờm nhiều, mình lạnh, rêu lưỡi trắng dầy.
Ngày sắc 1 thang, chia 2 lần uống.
GIẢI THÍCH: Tô tử, Sinh khương, Bán hạ, Tiền hồ, Trần bì chuyên trừ đờm ẩm, khi đờm ẩm được trừ đi thì khí tự thuận. Tuy nhiên, khí lấy huyết làm nhà, suyễn thì khí chạy lung tung không trở về được, vì vậy dùng Đương quy để bổ huyết; Suyễn thì thở gấp, vì vậy, dùng Cam thảo để hoãn bớt thở gấp; Khí xuất ra là do ở phế, nạp khí là do thận, vì thế, dùng Trầm hương để nạp khí vào thận hoặc dùng Nhục quế để dẫn thuốc vào thận (Huyết Chứng Luận). GHI CHÚ: Còn gọi là: Giáng Khí Thang (Phổ Tế Phương). Tử Tô Tử Thang (Thiên Kim Phương). KIÊNG KỴ: Nếu phế và vị cùng hư sinh ra ho, suyễn thì không nên dùng.
Cổ phương tham khảo — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…