🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Áp Xe Phổi Bệnh Học

Áp Xe Phổi (Đối Chiếu Bệnh Danh: Phế Ung - Lungs Abcess). Áp xe phổi là trạng thái phổi có mủ. Chứng trạng lâm sàng rõ nhất là sốt, ho kèm ngực tức, có khi ho ra mủ, máu.

Đại Cương

Áp xe phổi là trạng thái phổi có mủ.

Chứng trạng lâm sàng rõ nhất là sốt, ho kèm ngực tức, có khi ho ra mủ, máu.

Chương thứ 8 Phế Nuy, Phế Ung, Khái Nghịch Mạch Chứng Tịnh Trị (Kim Quỹ Yếu Lược) ghi : "Ho mà ngực đau, rét run, mạch Sác, họng khô, không khát, ói ra đờm đục, hôi thối, lâu lâu lại ói ra mủ như nước cháo, đó là chứng Phế Ung".

Theo như các triệu chứng lâm sàng mô tả trên đây thì chứng phế ung có thể gặp trong nhiều bệnh ở phổi như áp xe phổi, viêm phổi mủ, viêm phổi hoại tử, viêm phế quản mạn tính, dãn phế quản, cũng có thể là ung thư.

Theo sách Thiên Kim Phương, có thể dùng Đậu nành (Hoàng đậu) để kiểm tra và theo dõi diễn tiến chứng Phế Ung như sau :

Kiểm Tra: cho người bệnh nhai Đậu nành, nếu cảm thấy có vị thơm ngọt thường là bị áp xe phổi, nếu người bệnh cảm thấy có vị tanh hôi thì thường không phải là bệnh áp xe phổi.

Theo dõi diễn tiến bệnh: Sau khi được điều trị một thời gian, nếu người bệnh nhai Đậu nành mà cảm thấy tanh không thể nuốt được là bệnh đã diễn biến tốt, có thể cho ngừng thuốc được rồi. Trái lại nếu vẫn cảm thấy vị thơm ngọt thì bệnh chưa hết, phải điều chỉnh lại phương pháp điều trị cho thích hợp.%L

Õ

]

Nguyên Nhân

Nguyên nhân chủ yếu do cảm nhiễm ngoại tà. Phong nhiệt độc, phong hàn hoá nhiệt uất kết lại ở Phế, nung nấu Phế khiến Phế khí không thông, nhiệt ủng, huyết ứ kết lại thành ung.

Thiên Phế Nuy Phế Ung Khái Thấu Thượng Khí Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị (Kim Quỹ Yếu Lược) viết: "Phong vào phần Vệ thì thở ra được, không hít vào được. Nhiệt nhiều ở phần Vinh thì hít vào được nhưng thở ra không được. Phong làm tổn thương bì mao, nhiệt làm tổn thương huyết mạch. Phong lưu ở Phế, người bệnh ho, miệng khô, suyễn đầy, họng khô, không khát, khạc ra nhiều đờm đặc, thường bị rét run. Nóng quá huyết ngưng trệ chứa kết lại thành mủ"... Cho thấy chứng Phế ung do phong nhiệt làm tổn thương Phế.

Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận viết: "Chứng Phế ung, do phong hàn làm tổn thương Phế, khí kết tụ lại gây nên... Khí bị hư, hàn thừa cơ hư làm tổn thương Phế, hàn làm cho huyết ngưng trệ, uẩn kết lại thành ung, nhiệt tăng lên, nhiệt tích không tan đi huyết bị bại hoá thành mủ".

Sách Loại Chứng Trị Tài viết: "Chứng Phế ung, do cảm phải phong hàn...".

Sách Y Học Cương Mục q.19 viết: "Chứng Phế ung, do ăn uống thức ăn cay, nóng, thức ăn nướng, hoặc uống rượu nóng, táo nhiệt làm tổn thương Phế gây nên bệnh, cần trị sớm".

Sách Thọ Thế bảo Nguyên viết: "Do điều lý thất thường, lao nhọc làm tổn thương chính khí, phong hàn thừa cơ lấn lên, phong sinh nhiệt, uẩn tích lại không tan gây nên chứng Phế ung"

Biện Chứng Luận Trị

Trên lâm sàng, bệnh thường phát triển theo ba giai đoạn như sau:

GIAI ĐOẠN MỚI PHÁT: Ho đờm dính, vùng ngực đau tức, sợ lạnh, sốt, có khi ho nhiều, khó thở, miệng khô, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Phù Hoạt mà Sác (Nội Khoa Thượng Hải), mạch Sác Thực (Nội Khoa Thành Đô).

BIỆN CHỨNG:

Sợ lạnh, phát sốt: do phong nhiệt xâm nhập vào Phế, tà khí và chính khí tranh nhau gây ra.

Ho, ngực đau, khó thở: do nhiệt độc nung nấu Phế làm cho Phế mất chức năng tuyên thanh.

Đờm dính, miệng khô, mạch Sác dấu hiệu của nhiệt độc.

Rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Phù là dấu hiệu phong nhiệt từ phần biểu vào phần lý.

Do phong nhiệt xâm nhập vào Phế, làm tổn thương huyết mạch , huyết bị nhiệt nung đốt gây ra thối thịt, kết lại thành mủ.

ĐIỀU TRỊ:

Nội Khoa Thượng Hải: Sơ tán phong nhiệt, thanh Phế, hoá đờm. Dùng bài: Ngân Kiều Tán Gia Giảm (Ôn Bệnh Điều Biện): Bạc hà 8g, Cát cánh 8g, Cam thảo 4g, Đậu xị 8g, Kim ngân hoa 12g, Kinh giới huệ 6g, Liên kiều 8g, Lô căn 8g, Ngưu bàng tử 12g, Trúc diệp 6g.

(Kim ngân hoa, Liên kiều, để sơ tán phong nhiệt; Bạc hà, Cát cánh, Đậu xị, Kinh giới, Ngưu bàng tử để tuyên thông Phế khí, Lô căn, Trúc diệp để thanh nhiệt, sinh tân dịch).

Đầu đau thêm Cúc hoa, Mạn kinh tử, Thanh diệp để giải phong nhiệt, làm nhẹ đầu, sáng mắt. Ho nhiều, đờm nhiều: thêm Bối mẫu, Hạnh nhân, Qua lâu để giảm ho, hoá đờm. Nhiệt làm tổn thương tân dịch: thêm Sa sâm (Huyền sâm), Thiên môn (Thạch hộc), Thiên hoa phấn để nhuận Phế, sinh tân. Ngực đau nhiều: thêm Uất kim, Đào nhân để thông kinh, tán ứ, giảm đau.

Sách Trung Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại Toàn dùng bài:

Ngư Tinh Thảo Kê Áp Phương: Ngư tinh thảo 30g, Kê áp (trứng gà) 1 trái. Ngư tinh thảo sắc trước, lọc bỏ bã, cho Kê áp vào quậy đều uống. Chia 2 lần uống trong ngày. Uống liên tục 15-20 ngày.

Phế Nùng Thang Hợp Tễ: Hàn băng thạch 10g, Nha tạo 6g, Nhũ hương 10g, Thiên trúc hoàng 10g, Tử thảo 10g. Sắc, chia 2 lần uống.

Sách Nhật Bản Hán Y Danh Phương Tuyển dùng 3 bài sau:

Phế Ung Thang: Bạch giới tử 2g, Bối mẫu 4g, Cát cánh 4g, Cam thảo 2g, Hạnh nhân 4g, Hoàng cầm 4g, Qua lâu căn 2g. Sắc uống.

Vĩ Kinh Hợp Tứ Thuận Thang: Bối mẫu 4g, Cam thảo 2g, Cát cánh 2g, Đào nhân 4g, Đông qua tử 4g. Tử uyển 2g, Vĩ kinh 4g, Ý dĩ nhân 8g. Sắc uống.

Sài Hồ Cát Cánh Gia Đình Lịch Thang: Bán hạ 6g, Cam thảo 2g, Cát cánh 4g, Chỉ thực 2g, Đình lịch tử 2g, Hoàng cầm 4g, Qua lâu nhân 4g, Sài hồ 6g, Sinh khương ( khô) 2g. Sắc uống.

Sách Thiên Gia Diệu Phương:

Thanh Nhiệt Bài Nùng Thang: Bối mẫu 10g, Bồ công anh 30g, Cát cánh 10g, Chỉ thực 10g, Đan bì 10g, Đào nhân 10g, Đình lịch tử 10g, Đông qua tử 30g, Hoàng cầm 16g, Kim ngân hoa 30g, Lô căn (tươi) 60g, Tô tử 10g, Ý dĩ nhân 30g. Sắc uống ngày 1 thang.

Vi Kinh Thang Hợp Cát Cánh Thang Gia Vị: Cam thảo 24g, Cát cánh 50g, Đông qua nhân 50g, Hoàng cầm 24g, Kim ngân hoa 24g, Liên kiều 24g, Ngư tinh thảo 50g, Qua lâu 24g, Vi căn 50g, Ý dĩ nhân 24g. Sắc uống.

Sách Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng dùng :

Ngư Tinh Thảo Cát Cánh Thang: Cát Cánh 20g, Ngư tinh thảo 40g.

Ngư tinh thảo 40g, Phổi heo 80g, nấu, ăn cả nước lẫn cái, 3-5 lần/ ngày.

Thanh Nhiệt Tuyên Phế Thang (Trung Y Tạp Chí 1987 : 7): Ngân hoa đằng, Thạch liên (Hột sen) đều 30g, Liên kiều 15g, Ngư tinh thảo (cho vào sau) 50g , Ma hoàng (sống) 10g, Cát cánh 15g, Cam thảo (sống) 10g. Sắc uống.

CHÂM CỨU:

Đại chuỳ, Phế du, Đại trường du, Phong long, Khổng tối, Ngư tế (Bị Cấp Châm Cứu).

NHĨ CHÂM:

Phế, Chi khí quản, Tỳ, Huyết dịch, Huyết cơ điểm, Giao cảm, Bình suyễn, Mê căn (Bị Cấp Châm Cứu).

THỜI KỲ NUNG MỦ: Sốt cao, ra mồ hôi, không sợ lạnh, ho, thở gấp, ngực đầy, tức, nôn ra đờm dãi tanh hôi hoặc mủ máu, miệng khô, họng khô, rêu lưỡi vàng dầy, mạch Hoạt Sác.

BIỆN CHỨNG:

Sốt cao, không sợ lạnh là do nhiệt độc cao, tà khí và chính khí giao tranh, nhiệt bị bức bách gây nên ra mồ hôi. Đờm nhiệt uất ở Phế gây nên ho, thở gấp, nôn ra đờm mủ máu, ngực đau tức. Tân dịch bị hao tổn nên miệng khô, họng khô. Rêu lưỡi vàng dầy, mạch Hoạt, Sác là do nhiệt độc uất kết trong thời kỳ nung mủ.

ĐIỀU TRỊ:

Sách Nội Khoa Học Thượng Hải: Thanh nhiệt, giải độc, hoá ứ, tán kết, dùng bài: Thiên Kim Vi Kinh Thang (Thiên Kim Phương): Đào nhân 12g, Đông qua nhân 12g, Vi kinh 40g, Ý dĩ nhân 20g. Thêm Áp chích thảo 8g, Kim ngân hoa 12g, Liên kiều 8g, Ngư tinh thảo 16g.

(Dùng Vi kinh để thanh nhiệt, tuyên Phế; Đào nhân, Đông qua nhân , Ý dĩ để hoá trọc, trừ ứ, tán kết; Áp chích thảo, Kim ngân hoa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc).

– Nhiệt nhiều thêm Chi tử, Hoàng cầm, Thạch cao, Tri mẫu.

– Nôn ra đờm đục, suyễn : thêm Đình lịch tử, Tang bạch bì.

Sách Nội Khoa Học Thành Đô: Thanh nhiệt giải độc, tuyên Phế, hoá ứ, dùng bài: Thiên Kim Vi Kinh Thang Gia Vị (Thiên Kim Phương): Đào nhân 12g, Đông qua nhân 12g, Vi kinh 40g, Ý dĩ nhân 20g. Thêm Áp chích thảo 8g, Kim ngân hoa 12g, Liên kiều 8g, Ngư tinh thảo 16g.

Phiền khát thêm Thiên hoa phấn, Tri mẫu. Táo bón thêm Đại hoàng. Ho đờm thêm Bối mẫu, Qua lâu bì.

Sinh Hoàng Đậu Tương: Hoàng đậu (Đậu nành) 40-100g, rửa sạch, ngâm nước cho nở ra, xay nhuyễn với nước, lọc bỏ bã thành nước đậu sống. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần khoảng 200ml (Thiên Gia Diệu Phương).

Phức Phương Ngư Cát Thang: Bối mẫu 10g, Cam thảo 6g, Cát cánh 16g, Đào nhân 10g, Đông qua nhân 30g, Hoàng cầm 10g, Kim ngân hoa 30g, Ngư tinh thảo 30g, Ý dĩ nhân 30g (Thiên Gia Diệu Phương).

Phục Phương Thanh Nhiệt Giải Độc Thang (Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1991 : 5): Dã mãng mạch căn, Lô căn đều 15 – 30g, Ngư tinh thảo, Kim ngân hoa đều 15g, Hồng đằng 9 – 15g, Hoàng cầm, Cát cánh 6 – 9g, Đan sâm, Đào nhân đều 9g. Sắc uống. Đã trị 20 ca, khỏi hẳn 19 ca, hiệu quả ít một ca.

Thanh Nhiệt Thác Nùng Thang (Thiên Gia Diệu Phương): Đông qua tử, Ngân hoa, Bồ công anh, Ý dĩ nhân (sống) đều 30g, Lô căn (tươi) 60g, Cát cánh, Đơn bì, Chỉ thực, Đình lịch tử, Xuyên bối mẫu, Đào nhân, Tô tử đều 10g, Hoàng cầm 15g. Sắc uống.

GIAI ĐOẠN VỠ MỦ: Sốt, khát, thích uống nước, ho ói ra mủ, máu hoặc như nước cơm, mùi tanh hôi, ngực đầy tức, đau, thở khó, không nằm được, chất lưỡi đỏ , rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác.

BIỆN CHỨNG:

Ói ra đờm lẫn mủ, máu, tanh hôi: do mủ vỡ ra trong Phế.

Ngực đầy, đau, thở khó ( suyễn), không nằm được: do Phế khí bị ủng tắc không thông.

Phiền khát, thích uống: do nhiệt độc nung đốt làm cho Phế Vị âm bị tổn thương

Chất lưỡi đỏ, mạch Hoạt Sác: dấu hiệu nhiệt độc quá thịnh.

ĐIỀU TRỊ:

Bài nùng, giải độc, thanh nhiệt, sinh tân.

Sách Nội Khoa Học Thượng Hải dùng bài:

Cát Cánh Thang hợp Thiên Kim Vi Hành Thang: Bại tương thảo 8g, Cam thảo 24g, Cát cánh 50g, Đông qua nhân 50g, Hoàng cầm 24g, Kim ngân hoa 24g, Liên kiều 24g, Ngư tinh thảo 50g, Qua lâu 24g, Vi căn 50g, Ý dĩ nhân 24g. Sắc uống.

(Dùng Bại tương thảo, Hoàng cầm, Qua lâu, Vi hành để thanh nhiệt, tuyên Phế; Cát cánh hỗ trợ tác dụng tuyên Phế, Đào nhân , Đông qua nhân , Ý dĩ để hoá trọc, trừ ứ, tán kết; Áp chích thảo, Kim ngân hoa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc).

Sách Nội Khoa Học Thành Đô: Bài nùng, hoá ứ, thanh nhiệt, giải độc, dùng bài: Cát Cánh Thang Gia Vị (Tế Sinh Phương) : Bách hợp 20g, Bối mẫu 40g, Cam thảo 80g, Cát cánh 40g, Chỉ xác 40g, Đương qui 40g, Hạnh nhân 20g, Hoàng kỳ 60g, Phòng phong 40g, Qua lâu nhân 40g, Tang bạch bì 40g, Ý dĩ nhân 40g, Sắc uống.

Sách Thiên Gia Diệu Phương: dưỡng âm, thanh Phế, hoá ứ, bài nùng, dùng bài: Bách Hợp Bạch Cập Trư Nhục Thang: Bách hợp 120g, Bạch cập 60g, Thịt heo (Trư nhục) 100-200g. Thuốc tán bột, mỗi lần dùng 10-12g, trộn với thịt heo giã nhỏ, chưng cách thuỷ cho chín, ăn ngày một lần.

Tư Âm Giải Độc Thang (Sơn Tây Trung Y Tạp Chí): Huyền sâm 15g, Ngân hoa, Bồ công anh, Lô căn, Tử hoa địa đinh, Bại tương thảo, Cát cánh, Thiên môn, Mạch môn, Thiên hoa phấn đều 10g, Đông qua nhân, Ý dĩ nhân đều 18g. Sắc uống.

TÁC DỤNG: Tư âm, giải độc, thanh ung, bài nùng. Trị trẻ nhỏ bị áp xe phổi. Đã dùng bài này trị 11 ca đều khỏi hẳn.

CHÂM CỨU:

Phế du, Thái uyên, Thái khê, Khổng tối, Trung đô (Bị Cấp Châm Cứu).

Bệnh Án

Y ÁN TRỊ ÁP XE PHỔI

(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương)

Thôi X, nam 45 tuổi. Sốt cao, ho, nôn ra đờm dính có mủ, hôi thối, ngực đau, thở gấp, khát, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Hoạt Sác hữu lực. Chẩn đoán là Phế ung (áp xe phổi).

Dùng bài Thanh Nhiệt Bài Nùng Thang: Đông qua tử, Ngân hoa, Bồ công anh, Ý dĩ nhân đều 30g, Lô căn (tươi) 60g, Cát cánh, Đơn bì, Chỉ thực, Đình lịch tử, Bối mẫu, Đào nhân, Tô tử đều 10g, Hoàng cầm 15g. Sắc uống ngày một thang. Sau hai tháng, các triệu chứng đều giảm chỉ có đờm còn hôi thối. Dùng bài trên, uống tiếp 5 thang nữa, các chứng đều khỏi.

Hoạn X, nữ 19 tuổi, công nhân. Vì sốt, ho, ngực đau 4 ngày mà vào viện. Xét nghiệm bạch cầu 12.000mm3, bạch cầu trung tính 83%. Chụp X quang thấy phía trên phổi bên trái có một đám mờ lớn, ở giữa là vùng trong suốt và mặt dịch phẳng. Chẩn đoán là áp xe phổi bên trái. Sau khi nhập viện, nhiệt độ còn liên tục cao 39-400C, ho nhiều, đờm khạc ra như mủ, ăn kém, miệng khô, khát, táo bón, lưỡi đỏ, chất lưỡi vàng nhạt, bệu, mạch Hoạt Sác.

Cho uống Phức Phương Ngư Cát Thang: Ngư tinh thảo, Đông qua nhân, Kim ngân hoa, Ý dĩ nhân đều 30g, Cát cánh 15g, Hoàng cầm, Đào nhân, Bối mẫu đều 10g, Cam thảo 5g. Sắc uống ngày một thang.

Uống một tuần, sốt giảm dần, sau 10 ngày, thân nhiệt xuống bình thường, ho và đờm mủ giảm bớt. Uống thêm hai tuần nữa các triệu chứng đều hết. Kiểm tra lại bằng X quang: viêm ở phía trên phổi trái, có hấp thu rõ ràng, mặt dịch phẳng không còn. Lại dùng bài thuốc trên có gia giảm điều trị thêm hai tuần nữa. Chụp X quang kiểm tra lại: viêm ở phía trên phổi trái đã hấp thu, chỉ còn hang chưa hoàn toàn khép kín. Nói chung tình hình người bệnh tốt, cho xuất viện. Hai tháng sau kiểm tra lại, không thấy hang ở phía dưới phổi trái nữa.

Điền X, nam 58 tuổi, nông dân. Ho, khạc đờm, ngực đau gần nửa năm. Lúc đầu sốt, lạnh, sườn đau nhức, ho rất đau, có lúc nôn ra đờm dính. Bệnh kéo dài, khạc ra nhiều máu mủ, mùi rất tanh, cơ thể gầy ốm, sắc mặt tiều tuỵ, miệng khô, họng khô, rêu lưỡi vàng bệu, mạch Hoạt Sác.

Bảo người bệnh nhai đậu tương (nành) sống để xem bệnh, người bệnh nhai thấy trong miệng có vị ngọt. Cho dùng Sinh Hoàng Đậu Tương: Đậu tương vừa đủ, rửa sạch, ngâm vào nước cho nở ra, xay nhuyễn với nước, lọc bỏ bã đậu thành sữa đậu nành sống. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần khoảng 300ml. Uống được 10 ngày thì lượng mủ giảm đi, sốt giảm, ăn được nhiều hơn. Sau khi uống 20 ngày, bệnh nhân nhai thấy vị tanh của đậu, khó có thể nuốt nổi, vì vậy, ngưng uống thuốc. Sau đó, các triệu chứng đều giảm nhanh, khoẻ dần. Theo dõi không thấy bệnh tái phát.

Lê X, nam, 25 tuổi. Một năm trước bắt đầu ho, thở nhanh, gầy ốm. Mấy tháng sau thấy ho khạc ra mủ máu, mùi tanh hôi, ngực đau, sốt về chiều, mồ hôi trộm, miệng khô, họng khô, mạch Hoạt.

Cho dùng Bách Hợp Bạch Cập Trư Nhục Thang: Bách hợp 120g, Bạch cập 60g, Thịt heo (trư nhục) nạc vừa đủ, băm nát. Hai vị thuốc tán thành bột. Lấy 6g thuốc bột, trộn với thịt heo, cho nước vào trộn đều sền sệt, chưng cách thuỷ cho chín, ăn ngày một lần. Uống hơn hai tháng, hết nôn ra máu mủ, sốt cũng hết. Còn cảm thấy ngực đau, ho, ăn ít. Lại cho dùng bài Tứ Quân Thang (Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh, Cam thảo) thêm Hoàng kỳ để bổ dưỡng Phế khí. Uống mấy thang, bệnh khỏi hẳn.

Tham Khảo

Hoá Nùng Tán (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Bối mẫu 40g, Cát cánh 40g, Cam thảo 5g. Tán thành bột. Mỗi lần dùng 5g, ngày 3 lần. Uống với nước sắc Ý dĩ.

TÁC DỤNG: Thanh nhiệt, tán kết, lợi khí, bài nùng. Trị Phế nhiệt, ho ra đờm mủ.

Vân Mẫu Cao (Lý Luận Biền Văn): Vân mẫu, Hoả tiêu, Cam thảo đều 128g, Hoè chi, Tang bạch bì, Liễu chi, Trắc bá diệp. Cát cánh bì đều 64g, Bạch chỉ, Một dược, Xích thược, Nhục quế, Hoàng kỳ, Huyết kiệt, Đương quy, Bồ hoàng, Bạch cập, Xuyên khung, Bạch vi, Mộc hương, Phòng phong, Hậu phác, Cát cánh, Sài hồ, Đảng sâm, Thương truật, Hoàng cầm, Long đởm thảo, Hợp hoan bì, Nhũ hương, Phục linh đều 15g. Chưng với dầu Mè, thêm Hoàng đơn, Tùng hương 32g, trộn cho đều thành cao. Dùng để đắp bên ngoài.

TÁC DỤNG: Thanh Phế, hoá đờm, tiêu ứ, bài nùng kiêm bổ hư. Trị Phế ung.

Phế Ung Tán (Tinh Độc Đường Tổ Truyền Bí Phương): Ngư tinh thảo, Kim ngân hoa, Đông qua nhân, Bản lam căn đều 30g, Cát cánh, Xuyên bối mẫu, Đào nhân, Hoàng cầm, Hoàng liên đều 15g, Cam thảo 10g. Tán nhuyễn. Mỗi lần uống 10g, ngày 3 lần.

TÁC DỤNG: Thanh nhiệt, giải độc, lợi Phế, bài nùng. Trị Phế ung.

Làm long đờm: Dùng cả quả Bồ kết (vỏ và nhân), sấy khô, tán bột, trộn với mật ong làm thành viên, mỗi viên 0,2g. ngày uống 3 lần, mỗi lần 2~3 viên. Đã trị 103 ca, gồm lao phổi, áp xe phổi, tâm phế mạn, dãn phế quản, viêm phế quản phổi, viêm phế quản có đờm đặc, khó khạc. Kết quả: Sau bình quân 16,5 ngày, long đờm tốt (Mao Bảo Linh, Trung Hoa Nội Khoa Tạp Chí 1982, 12 : 783).

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (8)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học