Tên Hán: 青皮 · Pinyin: Qīng Pí · Tên khoa học: Pericarpium Citri Reticulatae Viride · Họ khoa học: Cam quýt (Rutaceae). · Bộ phận dùng: vỏ quả quýt non · Xuất xứ: Trân châu nang
Tính: Ôn · Vị: Khổ, Tân · Quy kinh: Túc Quyết Âm Can, Túc Thiếu Dương Đởm, Túc Dương Minh Vị
Nhóm dược lý: Lý Khí
Là vỏ quả chưa chín hoặc quả nhỏ non của cây Quýt (Citrus tangerina Hort. et Tanaka).
Tứ hoa thanh bì: Bốn mảnh vỏ quả, hình dạng không giống nhau, các cánh phần lớn cong vào trong, vỏ mỏng. Vỏ ngoài mầu xanh đen hoặc mầu lục xanh, có nếp nhăn. Mặt trong mầu trắng vàng, có đường vằn gân, mép mặt chỗ gẫy có chấm dầu. Mùi thơm thanh, vị đắng.
Cá thanh bì: Hình cầu tròn, hình dạng không nhất định, đường kính 1 – 1,5cm, dưới 1cm gọi là Thanh bì tử. Mặt ngoài mầu tro đậm hoặc xanh đen, có vằn nhăn và bướu nhỏ lồi, phần đáy có vết của cuống quả, lấy móng tay vạch cũng thất có vết dầu. Chất cứng, sau khi tách vỏ, mặt bề dầy 0,15 – 0,3cm, mầu vàng nhạt hoặc hồng vàng, lớp ngoài nhìn rõ điểm dầu, trong có màng, quả Thanh bì tử ít có kẽ rỗng. Mùi thơm thanh, vị đắng.
Synephrine acetate, asparagic acid, glutamic acid, proline, glycine, alanine, cystine, valine, phenylalanine, histidine, arginine, tyrosine (Phương Tân Đức, Trung dược thông báo 1985, 10 (2): 29).
Tác dụng ức chế mạnh cơ trơn của ruột, vì vậy chống được co thắt. Tác dụng của thuốc là trực tiếp lên cơ trơn. So sánh với Trần bì thì Thanh bì làm giãn cơ trơn của ruột mạnh hơn. Tinh dầu của Thanh bì có tác dụng kích thích ôn hòa lên ruột làm tăng tiết dịch tiêu hóa và bài khí tích trệ trong ruột (Trung dược học).
Chích tĩnh mạch dịch Thanh bì hoặc nước sắc Thanh bì bơm vào tá tràng làm tăng tiết mật rõ rệt ở chuột cống, chứng minh thuốc có tác dụng lợi mật (Trung dược học).
Tinh dầu của Thanh bì có tác dụng hóa đàm. Thanh bì có tác dụng kháng histamin, chống co thắt khí quản, làm giảm cơn suyễn (Trung dược học).
Thanh bì chích tĩnh mạch cho súc vật thực nghiệm, thấy làm tăng huyết áp và duy trì thời gian lâu dài, nhờ vậy, có tác dụng chống choáng. Thanh bì còn có tác dụng cải thiện nhịp tim nhanh trên thất (Trung dược học).
TÍNH VỊ:
Vị đắng (Bản thảo đồ kinh).
Vị cay, khí ôn (Y học khải nguyên).
Vị đắng, cay, tính ấm (Trung dược học).
QUY KINH:
Vào kinh Can, Tam tiêu (Thang dịch bản thảo).
Vào kinh Can, Tỳ (Lôi công bào chế dược tính giải).
Vào kinh Can, Đởm và Vị (Trung dược học).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
Chủ khí trệ, hạ thực, phá tích kết và cách khí (Bản thảo đồ kinh).
Thanh bì tính tối khốc liệt, tiêu kiên, phá trệ là sở trường, uống lầm sẽ hại chân khí (Bản thảo kinh sơ).
Sơ Can khí, giải ứ huyết và giải ứ trệ. Trị ngực sườn đầy chướng gây nên đau, vùng vú đau, sán khí gây thiên trụy, tích tụ thuộc về Can kinh (Trung dược học).
Sơ Can, thư uất, phá khí, tán kết. Trị ngực sườn đầy chướng gây đau, vùng vú đau, sán khí gây thiên trụy, tích tụ thuộc về Can kinh (Đông dược học thiết yếu).
KIÊNG KỴ:
Can huyết hư không có khí trệ: không dùng.
LIỀU DÙNG:
3–10g.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Vỏ quả quýt còn xanh. Loại vỏ mầu xanh đen, mặt trong mầu trắng, nhiều dầu là tốt.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Thu hái vào cuối xuân, đầu mùa hè, cũng có khi kéo dài đến mùa thu. Hái những quả chưa chín hoặc chọn những quả rụng, quả nhỏ gọi là Thanh bì tử, quả trung bình gọi là Cá thanh bì, phơi khô để dùng. Quả hơi to, dùng dao cắt làm 4 miếng, bóc sạch màng trong, phơi khô, gọi là Tứ hoa thanh bì.
BÀO CHẾ:
Ngâm với nước cho mềm, cắt ra từng miếng, phơi khô ngay là dùng được (Trung dược học).
Thanh bì: nhặt hết tạp chất, ngâm nước mềm, vớt ra, cắt từng miếng, phơi khô ngay là được.
Thố Thanh bì: Trộn đều miếng Thanh bì với dấm rồi cho vào nồi, sao nhỏ lửa thành mầu hơi vàng, lấy ra phơi khô (Cứu 100 cân Thanh bì, dùng 15 cân dấm) (Dược Tài Học).
BẢO QUẢN:
Để nơi khô ráo.
Hàn ứ ở kinh can biểu hiện như sưng đau tinh hoàn hoặc dương vật hoặc thoát vị: Dùng Thanh bì với Ô dược, Tiểu hồi hương và Mộc hương (Thiên thai ô dược tán – Chứng trị chuẩn thằng).
Trị thực tích gây đau bụng, bụng đầy chướng: Thanh bì, Sơn tra, Thần khúc, Mạch nha, Thảo quả, tán bột, hòa với nước làm thành viên, uống với nước sôi (Thanh bì hoàn – Thẩm thị tôn sinh thư).
Trị sán khí: Thanh bì (sao cho vàng), Tiểu hồi hương (sao vàng). Tán bột, uống với rượu, lúc đói (Thiên khí phương – Chúng diệu tiên phương).
Trị phụ nữ bế kinh không rõ nguyên nhân, bụng to như cái trống: Thanh bì 120g, Bạch truật 180g, Sa nhân 30g. Tán bột, trộn với mạch nha làm hoàn, to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 15g, lúc đói với rượu (Bản thảo hội ngôn).
Trị Can khí uất kết biểu hiện như tức và đau ngực và vùng hạ sườn: Thanh bì, Sài hồ, Uất kim, Hương phụ và Thanh quất diệp (Sổ tay lâm sàng trung dược).
Trị viêm tuyến vú: Thanh bì, Qua lâu, Bồ công anh, Kim ngân hoa, Liên kiều. Sắc uống (Sổ tay lâm sàng trung dược).
Trị đau do khí uất, nhũ hạch, nhũ thũng, hông sườn đau, bụng đau: Thanh bì, tán bột mịn. Mỗi lần uống 2g, ngày 2 lần (Thanh bì tán – Lâm sàng thường dụng trung dược thủ sách).
Trị sốc do sốt xuất huyết: Trần Liên và cộng sự, dùng dịch tiêm Thanh bì 10–15ml, cho vào dịch glucoza 10%, truyền tĩnh mạch. Trị 30 ca, đều có tác dụng tăng áp huyết rõ (Giang Tô trung y tạp chí 1982, 6: 354).
Trị tim nhịp nhanh trên thất: Mã Quý Đông và cộng sự dùng dịch Thanh bì, mỗi lần 4ml (tương đương thuốc sống 4g), cho vào dịch truyền glucoza 25% 40ml, truyền nhỏ giọt tĩnh mạch chậm. Trị 49 ca, tỉ lệ có kết quả 85,7%. Số bệnh nhân bị bệnh lâu nhất là 30 năm, ngắn nhất là nửa năm, nhiều lần tái phát. Trong thời gian dùng thuốc, không có tác dụng phụ (Trung y tạp chí 1987, 3: 38).
Thanh bì, các bài thuốc xưa không dùng, đến đời Tống các thầy thuốc mới dùng. Mầu của nó xanh, vị rất đắng mà cay, khí ấm, không độc, khí vị đều hậu, trầm mà giáng, thuộc âm. Vào kinh túc Quyết âm, túc Thiếu dương. Đắng thì tiết, cay thì tan, cho nên chủ trị khí trệ, kiện Tỳ, phá tích kết, phiên vị. Trương Nguyên Tố cho rằng Thanh bì phá tích kết, tan khí trệ, trị khí tích ở hông sườn trái, là theo ý đó (Bản thảo kinh sơ).
Quất nhỏ, gọi là Thanh bì, công dụng đều như nhau. Tuy nhiên tính của Thanh bì tương đối mạnh. Thanh bì ví như người đang tuổi niên thiếu, khí đang mạnh mẽ. Trần bì giống như vị lão thành, vì vậy, tính táo, cấp đã bị hóa. Thanh bì vào Can vì mầu xanh vậy. Thanh bì vào Can làm tan tà, vào Tỳ làm điều đờm, cho nên, nó là thuốc mà người bệnh sốt rét phải cần đến (Bản thảo đồ giải).
Thanh bì quả nhỏ, tính hơi mạnh, vào kinh Can, thiên về sơ Can khí mà ổn định đau. Trần bì quả to hơn, tính hơi chậm, vào Tỳ Phế, thiên về thông Tỳ khí và hóa đờm (Đông dược học thiết yếu).
Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.
Đang tải ứng dụng…