🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Kinh Túc Dương Minh Vị ST

Kinh Túc Dương Minh Vị (mã ST). Tổng cộng 90 huyệt, mỗi bên 45 huyệt. The Leg Sunlight Yang (Stomach) Meridian – Tsou Yang Ming, Meridien De L’Estomac) Vượng giờ Thìn (7 – 9g) – Hư giờ Tỵ (9 -11g) – Suy giờ…

Đại Cương

The Leg Sunlight Yang (Stomach) Meridian – Tsou Yang Ming, Meridien De L’Estomac)

Vượng giờ Thìn (7 – 9g) – Hư giờ Tỵ (9 -11g) – Suy giờ Tuất (19 – 21g).

Nhiều Khí, nhiều Huyết.

Ấn đau huyệt Trung quản (Nh 12) và Vị du (Bq 21 – Bối du Huyệt)

Đường Kinh Chính

Khởi đầu từ cạnh cánh mũi (h. Nghênh hương – Đtr) đi lên, giao ở hõm góc trong mắt – gốc mũi (huyệt Tinh minh – Bq), vòng trở xuống dưới theo đường ngoài mũi vào hàm trên, rồi quanh ra môi miệng, giao chéo nhau tại môi trên với Đốc mạch (huyệt Nhân Trung), vòng môi dưới giao với Nhâm mạch (huyệt Thừa tương), đoạn dọc theo hàm dưới ra sau h. Đại nghênh đến góc hàm dưới, vòng lên trước tai qua huyệt Thượng quan (Đ), theo bờ trước tóc mai giao với kinh Đởm (huyệt Huyền lư + Hàm yến) lên trên bờ góc trán rồi theo chân tóc ra gặp Đốc mạch (huyệt Thần đình).

Một nhánh khác từ huyệt Đại nghênh đi xuống dọc theo thanh quản vào hố trên đòn, tại đây phân 2 nhánh:

Một nhánh từ hố trên đòn qua cơ hoành đến liên lạc với Tỳ và Vị;

Một nhánh từ hố trên đòn, thẳng qua đầu ngực, đi song song với Nhâm mạch, đến vùng bẹn.

Từ môn vị dạ dày có nhánh đi xuống bụng dưới hợp với kinh chính ở bẹn, rồi cùng đi theo cơ thẳng trước ở đùi xuống gối, dọc theo phía ngoài xương chầy, đến cổ chân, mu bàn chân, đến kết ở bờ ngoài góc móng ngón chân thứ hai. Một nhánh phụ từ Túc Tam lý đi ngoài đường kinh chính xuống tận ngón chân giữa. Một nhánh từ mu bàn chân (huyệt Xung dương) vào đầu ngón chân cái để tiếp nối với kinh Túc Thái âm

Kinh Cân

Khởi từ góc ngoài ngón chân thứ 2, 3, 4 đi đến cổ chân phân thành 2 nhánh:

Một nhánh ngoài đi dọc theo phía ngoài cẳng chân, theo đùi đến mấu chuyển lớn xương đùi (huyệt Hoàn khiêu – Đ.30), rồi lên dọc theo cạnh trước ngoài ngực, trên sườn cụt, vào phần dưới ngực vòng qua lưng, kết ở cột sống từ đốt sống lưng 1 đến 9.

Một nhánh trong từ mu chân, chạy dọc theo bờ xương chày, đến trước hõm gối, trong đường chi khớp, tại đây rẽ một nhánh phụ, trở xuống phía ngoài bờ xương chày, để gặp kinh chính Đởm.

Nhánh chính đi thẳng lên đùi, qua vùng Phục thố, tới vùng bẹn, đến phía trước bụng hội với 3 kinh cân Âm ở chân tại h. Khúc cốt (Nh 2) và Trung cực (Nh 3). Nhánh trong này của kinh đi ngoài đường giữa, trên mặt bụng vách ngực trước, đến hõm trên xương đòn (h. Khuyết bồn) thì kết lại và lên cổ, tới hàm dưới. Từ đó, nó chia 2 nhánh:

Một nhánh vào miệng;

Một nhánh đến xương gò má, mũi để gặp kinh cân Bàng quang; rồi nhánh này chia thành nhiều mao quản tỏa quanh vùng mi dưới. (Kinh Cân Bàng quang thì chia thành nhiều mao quản phủ vùng mi trên, nên 2 kinh cân này rất quan trọng để trị các bệnh ở vùng mắt và bệnh mất ngủ).

Một nhánh khác đi từ hàm dưới và kết ở trước tai.

Kinh Biệt

Khởi từ huyệt Khí xung, ở vùng bẹn, cùng với kinh Tỳ đi theo vào vùng bụng để liên lạc với Vị, Tỳ, thông lên Tâm, dọc theo cổ họng, ra miệng lên đến chỗ lõm gốc mũi, vào góc trong của mắt ở huyệt Tinh minh (Bq)

Lạc Dọc

Khởi từ huyệt Lạc – Phong long, đi dọc theo phía trước ngoài cẳng chân, hướng lên phía trên thân thể theo kinh chính lên đầu, đến huyệt Bá hội (Đc), để hội với khí của các kinh khác, rồi vòng xuống mặt, đi sâu vào họng.

Lạc Ngang

Khởi từ huyệt Lạc – Phong long, vòng ngang đầu xương chầy để đến kinh Tỳ ở huyệt Nguyên là Thái bạch.

Chủ Trị

TRIỆU CHỨNG

Kinh bệnh: Mũi chảy máu, miệng môi mọc mụn, họng đau, cổ sưng, miệng méo, ngực đau, chân sưng đau hoặc teo lạnh. Nếu tà khí thịnh thì sốt cao, ra mồ hôi, có thể phát cuồng.

Phủ bệnh: Vị nhiệt, ăn nhiểu, tiểu vàng, bồn chồn, có thể phát cuồng. Nếu Vị hàn: bụng đầy, ăn ít (Châm cứu học Thượng Hải).

Vị Thực: Phía trước cơ thể bị nhiệt, mau đói, nước tiểu vàng. Mạch Thốn khẩu lớn hơn Nhân nghênh 3 lần.

Vị Hư: Phía trước cơ thể bị hàn, run, bụng đầy trướng. Mạch Thốn khẩu nhỏ hơn Nhân nghênh.

Kinh Chính: Rối loạn do tà khí: Cảm giác như bị dội nước lạnh, thích ưỡn ngực và duỗi chân, ngáp nhiều lần, chán đời, hay rên rỉ, thích nơi yên tĩnh, dễ phát cuồng, ghét ánh sáng, lo âu, ưu tư. Trường hợp nặng thì leo trèo lên nơi cao để ca hát, cởi quần áo mà chạy, bụng trướng, sôi bụng, gọi là chứng “Cán quyết”.

Lạc Ngang: Rối loạn do nội nhân: Sốt và rét (ôn bệnh). Hôn mê, điên cuồng với cơn sốt dữ dội. Tự đổ mồ hôi. Mũi chảy nước trong, chảy máu cam. Cổ sưng, họng tê, miệng méo lệch. Mụn nhọt ở môi, miệng. Bụng trướng. Đầu gối viêm. Đau nhức theo đường kinh đi từ ngực đến mu chân, ngón chân thứ 2 bất động.

Thực: Nóng vùng ngực, bụng, mau đói, nước tiểu vàng.

Hư: Phía trước ngực bụng đều lạnh. Vị hàn gây đầy trướng.

Lạc Dọc:

Thực: Điên cuồng, động kinh.

Hư: Cơ cẳng chân teo. Các khớp xương buông thõng, khó cử động.

Kinh Biệt: Đau từng cơn: Cảm giác lạnh ở môi và răng, chảy máu mũi, đầu đau, ngực đầy, không thở nổi.

Kinh Cân: Đau và co rút cơ theo đường kinh đi qua. Co cứng ngón chân thứ 2, gót chân co rút và cứng đờ. Khớp háng viêm, dịch hoàn viêm. Cơ bụng co rút, đau ran đến hõm trên xương đòn và má, vùng đầu đau. Đột nhiên miệng méo lệch. Liệt thần kinh VII, thần kinh tọa đau.

ĐIỀU TRỊ

Vị Hư: châm bổ huyệt Giải khê vào giờ Tỵ [9-11g] (đây là huyệt Kinh – Hỏa, Hỏa sinh Thổ – Hư bổ mẫu).

Vị Thực: châm tả huyệt Lệ đoài vào giờ Thìn [7-9g] (đây là huyệt Tỉnh – Kim, Thổ sinh Kim – Thực tả Tử)

Các Huyệt Trên Kinh Túc Dương Minh Vị