Ngọc Trúc

Tên Hán: 玉竹 · Pinyin: Yù Zhú · Tên khoa học: Rhizoma Polygonati Odorati · Họ khoa học: Hành Tỏi (Liliaceae). · Bộ phận dùng: thân rễ · Xuất xứ: Bản Kinh

Tính: Hơi hàn · Vị: Cam · Quy kinh: Thủ Thái Âm Phế, Túc Dương Minh Vị

Nhóm dược lý: Bổ Âm

Công dụng

Chủ trị

Kiêng kỵ

Quy kinh (đường kinh)

Mô tả

Cây thảo sống dai, cao 40–60cm. Thân rễ mọc ngang màu vàng trắng nhạt, đường kính 0,5–1,5cm, trên thân rễ có nhiều rễ con. Lá mọc so le từ giữa thân trở lên, không có cuống, cứng dai, hình trứng rộng, dài 6–12cm, rộng 3–6cm, mép nguyên, phía cuống hẹp lại, mặt trên màu xanh, mặt dưới màu trắng nhạt. Hoa mọc ở kẽ lá, có cuống dài 1–1,4cm, mỗi kẽ mọc 1–2 hoa, màu trắng, hình chuông. Nếu 2 hoa thì có 1 cuống chung và 2 cuống con riêng. Quả mọng, hình cầu, đường kính 4–7mm, khi chín có màu tím đen.

Thành phần hoá học

Conballamarin, Convallarin, Quercitol, Vitamin A (Chinese Hebral Medicine).

Dược lý

Nước thuốc sắc, chiết xuất cồn liều nhỏ đối với tim cô lập ếch có tác dụng cường tim, dùng với Hoàng kỳ có tác dụng cải thiện điện tâm đồ, thiếu máu cơ tim (Trung Dược Học).

Thuốc có tác dụng hạ Lipit huyết, làm chậm lại sự hình thành xơ cứng đông mạch, tăng cường khả năng chịu đựng trạng thái thiếu oxy của cơ tim (Trung Dược Học).

Thuốc có tác dụng ức chế tăng cường huyết đối với chuột cống thí nghiệm (Trung Dược Học).

Tác dụng đối với huyết áp: Thuốc ngâm lá và nước sắc đối với thỏ nhà và chó đều có tác dụng giáng áp ngắn, tạm. Cắt đứt dây thần kinh giao cảm và tiêm Atropin thì thấy huyết áp có giảm. Nhưng dùng Ngọc trúc ở Lao Sơn Thanh Đảo, dù lượng lớn hoặc nhỏ đều khiến huyết áp thỏ dần dần tăng lên cao. Đối với chó gây mê thì lượng nhỏ không ảnh hưởng, liều tương đối lớn có thể khiến cho huyết áp tạm thời xuống thấp (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

Thuốc có tác dụng nhuận trường (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Tính vị quy kinh (y văn)

TÍNH VỊ:

Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh).

Vị ngọt, hơi đắng, tính bình, hơi ôn (Trấn Nam Bản Thảo).

Vị ngọt, tính bình (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH:

Vào kinh Phế (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Chủ trị (y văn)

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

Chủ trúng phong, bạo nhiệt, các chứng bất túc, khử lao khách nhiệt, đầu thống, bất an (Dược Tính Bản Thảo).

Điều khí huyết, cường tráng cơ thể (Bản Thảo Thập Di).

Trừ phiền muộn, chỉ khát, nhuận Tâm Phế, bổ ngũ lao, thất thương, hư tổn (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

Chủ phong ôn, tự ra mồ hôi, lao ngược hàn nhiệt, Tỳ Vị hư yếu, các chứng bất túc (Bản Thảo Cương Mục).

Dưỡng âm, sinh tân dịch, tư bổ khí huyết. Trị ho do Phế kim táo nhiệt, miệng khát, họng khô Vị hỏa nung nấu bên trong làm cho tân dịch khô kiệt, và tiêu cơm, mau đói (Đông Dược Học Thiết Yếu).

KIÊNG KỴ:

Người mới cảm mạo có đờm tích ứ trệ thì không được dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

LIỀU DÙNG:

9g – 15g.

Nuôi trồng

BỘ PHẬN DÙNG:

Thân rễ. Rễ có mắt đều nhau, hình giống mắt tre, to bằng ngón tay cái. Bé bằng cọng tranh, dài 5 – 7cm, trong vàng ngà, mềm ngọt, không mốc mọt là tốt; không nhầm với củ hoàng tinh to hơn, ngứa, có nhiều đốt không đều nhau.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Lấy dao cạo bỏ lớp vỏ và đầu mấu, rửa sạch, ngâm nước một đêm, hấp qua, sấy khô để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

TÊN GỌI:

Vị thuốc này, lá giống lá trúc mà sáng như ngọc, rễ có nhiều đốt, vì vậy gọi là Ngọc trúc.

Bào chế

BÀO CHẾ:

Theo Trung Y: Gọt bỏ vỏ và mắt, rửa sạch, dùng nửa mật nửa nước ngâm một đêm, đồ chín, sấy khô dùng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch (nếu bẩn), thái đoạn ngắn, phơi khô dùng.

BẢO QUẢN:

Dễ mốc và sâu bọ, tránh ẩm.

Đơn thuốc tham khảo

Trị đờm hỏa, đờm dãi ủng tắc, ho suyễn: Ngọc trúc, Phục linh, Cam thảo Cát cánh, Quất bì, Tử uyển, Xuyên bối mẫu, Sinh khương, sắc uống (Ngọc Trúc Ẩm – Trương Thị Y Thông).

Trị bệnh mạch vành, đau thắt ngực, phối hợp với Đảng sâm chế thành bài Cao Sâm Trúc (bài thuốc Bệnh viện Tây Uyển, Bắc Kinh): Đảng sâm 12g, Ngọc trúc 20g. Sắc thành cao, chia 2 lần uống trong ngày (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị ngoại cảm (có triệu chứng ho, phế táo) ở bệnh nhân vốn âm hư dùng bài: Gia giảm Ngọc Trúc Thang (Thông Tục Thương Hàn Luận): Ngọc trúc 12g, Hành tươi 3 củ, Cát cánh 6g, Đạm đậu xị 16g, Bạc hà 4g (cho sau), Chích thảo 2g, Bạch vị 4g, Táo 2 quả, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị viêm phế quản lâu ngày, lao phổi ho do phế táo: Ngọc trúc, Mạch môn, Sa sâm, Thạch hộc đều 10–15g, cho vào thuốc thang, nấu cao hoặc hoàn tán. Dùng tươi hoặc độc vị, có thể dùng liều 40–80g, dùng cường tim cần liều cao (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Tham khảo

Ngọc trúc dùng thay Sâm, Kỳ. Thuốc không hàn, không táo, rất có công hiệu (Bản Thảo Cương Mục).

Ngọc trúc vị ngọt, nhiều chất béo, mềm mà nhuận, thiên về dưỡng âm, bổ mà không đầy. Sau khi nội nhiệt nung nấu tân dịch, tân dịch ở Phế Vị bị tổn thương gây ra bệnh, dùng vị thuốc này rất thích hợp. Ngọc trúc không trị được phong nhiệt từ ngoài xâm nhập vào, vì nó có tính nhu nhuận nên chỉ dẹp được phong chứ không đuổi được phong (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Ngọc trúc là thuốc dưỡng âm, nhuận táo, dùng tị Phế Vị bị âm thương, tân dịch suy hao, tác dụng gần giống như Mạch môn nhưng trị liệu thì lấy thượng tiêu làm chủ. Vì vậy phong ôn, thu táo mà ho, khát, rất thích hợp (Thực Dụng Trung Y Học).

Trị suy tim, dùng Ngọc trúc làm chính. Trị thấp tim, xơ cứng động mạch vành, tâm phế mạn gây suy tim độ II, II. Đã trị 5 ca, trong đó 3 ca phản ứng khi dùng Digital, đổi dùng Ngọc trúc thấy không chế được suy tim, từ đó không thấy phát sinh phản ứng xấu nào (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

Trị bệnh thấp tim: thuốc có tác dụng cường tim, tư dưỡng khí huyết, thường phối hợp với Kỷ tử, Long nhãn nhục, Mạch đông, Sinh khương, Đại táo. Nếu huyết áp thấp thêm Chích thảo. Trường hợp suy tuần hoàn phải thêm Phụ tử, Quế nhục. Mạch nhanh, huyết áp hơi cao, cần thận trọng lúc dùng (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

Bài thuốc có dùng vị này (56)

Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…