Hồi Hộp Bệnh Học
Hồi Hộp. Là cảm giác chủ quan hồi hộp không yên, có khi gặp điều gì kinh sợ mới phát (gọi là Kinh Quý).
Đại Cương
Là cảm giác chủ quan hồi hộp không yên, có khi gặp điều gì kinh sợ mới phát (gọi là Kinh Quý). Có người thường xuyên bị hồi hộp không yên, không có chuyện gì kinh sợ mà cũng cảm thấy hồi hộp, đánh trống ngực (gọi là Chinh Xung).
Sách Y Học Chính Truyền viết: "Người kinh quý gặp điều kinh hãi thì hồi hộp, bồn chồn trong bụng, còn người mắc chứng Chinh xung thì lúc nào cũng có cảm giác đánh trống ngực, hồi hộp".
Vì triệu chứng chính của chứng Chinh Xung và Kinh Quý đều là hồi hộp, bồn chồn và đều là triệu chứng của tạng Tâm, chỉ là biểu hiện mức độ nặng nhẹ khác nhau nên sau này được gọi chung là Tâm Quý.
Chứng Tâm Quý có thể là triệu chứng của rối loạn thần kinh thực vật, thần kinh tim, rối loan nhịp tim, suy nhược cơ thể, thiếu máu... trong Y Học Hiện Đại.
Nguyên Nhân
Tâm Thần Không Yên: Do sợ hãi trực tiếp ảnh hưởng đến tâm thần không yên, gây ra hồi hộp mất ngủ, hoặc kinh sợ tổn thương Thận, Thận thủy không ức chế được Tâm hỏa cũng sinh bốn chồn hồi hộp.
Tâm Huyết Bất Túc: Do bệnh lâu ngày, khí huyết hư suy, huyết mất nhiều do chấn thương hoặc do lo suy nghĩ nhiều làm tổn thương Tỳ, Tỳ không sinh đủ huyết để dưỡng Tâm sinh ra hồi hộp bất an.
Âm Hư Hỏa Vượng: Bệnh nhiệt lâu ngày làm tổn thương chân âm gây nên âm hư hỏa vượng quấy nhiễu tâm thần sinh ra hồi hộp mất ngủ.
Phong Thấp Tý: Gây tắc trở lạc mạch khí trệ huyết ứ, Tâm mất dinh dưỡng sinh ra chứng tâm quí.
Dương Khí Suy: Do bệnh lâu ngày dẫn đến Tâm dương suy thì tâm thần sẽ bất an sinh ra hồi hộp.
Biện Chứng Luận Trị
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ:
Tâm Thần Bất An: Hay kinh sợ, đứng ngồi không yên, ngủ ít hay mơ, mạch nhanh chậm thất thường.
ĐIỀU TRỊ: An thần trấn kinh. Dùng bài An Thần Định Chí Hoàn (Y Học Tâm Ngộ): Nhân sâm, Phục linh, Phục thần, Viễn chí, Thạch xương bồ, Long xỉ. Thêm Thạch quyết minh, Sao táo nhân, Mẫu lệ, Bá tử nhân.
(Nhân sâm, Long xỉ bổ khí trấn kinh; Phục thần, Viễn chí, Thạch xương bồ an thần, hóa đờm; Thạch quyết minh, Sao táo nhân, Mẫu lệ, Bá tử nhân trấn kinh an thần).
Tâm Huyết Hư: Hồi hộp, váng đầu, hoa mắt, da mặt xanh xám, môi lưỡi nhạt, chân tay yếu, mạch Trầm Tế.
ĐIỀU TRỊ: Ích khí, bổ huyết, dưỡng Tâm, an thần. Dùng bài Quy Tỳ Thang gia giảm.
(Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Cam thảo ích khí, kiện Tỳ để sinh huyết; Đương quy, Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân, Viễn chí an thần; Mộc hương ôn trung, hành khí, giảm bớt sự nê trệ của thuốc bổ).
Âm Hư Hỏa Vượng: Hồi hộp không yên, bứt rứt khó ngủ, người nóng, da khô, mồ hôi trộm, hoa mắt, ù tai, lưng đau, gối mỏi, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Tế Sác.
ĐIỀU TRỊ: Tư âm, giáng hỏa, định Tâm, an thần. Dùng bài Mạch Vị Địa Hoàng Hoàn gia giảm.
(Sinh địa, Đơn bì, Trạch tả thanh Can Thận hỏa; Sinh địa, Mạch môn, Ngũ vị tử, Hoàng tinh tư âm, thanh nhiệt; Thêm Thạch cao, Tri mẫu để giáng hỏa; Thạch quyết minh, Long nhãn nhục, Táo nhân (sao đen) để dưỡng tầm an thần
Phong Thắp Tý Nhập Tâm: Hồi hộp, khó thở, có lúc ngực đau tức, hai má đỏ tía, có lúc môi tím thâm, móng chân tay tím nhạt, hoặc ho khó thở, ho có máu, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch Sáp hoặc mạch Kết, Đại.
ĐIỀU TRỊ: Hoạt huyết, hóa ứ, trợ dương, thông mạch. Dùng bài Đào Nhân Hồng Hoa Tiễn gia giảm.
(Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm, Đương quy, Diên hồ sách, Xuyên khung, Hương phụ hoạt huyết hóa ứ. Thêm Quế chi, Cam thảo để thông tâm dương; Long cốt, Mẫu lệ an tâm thầm).
Ho ra máu thêm Tam thất để cầm máu.
Tỳ Thận Dương Hư: Hồi hộp, bứt rứt, ngực tức, khó thở, người mát, chân tay lạnh, thân mình phù, tiểu ít, lưỡi nhạt, bệu, rêu lưỡi trắng, mạch Kết Đại hoặc Trầm Tế.
ĐIỀU TRỊ: Ôn dương lợi thủy. Dùng bài Chân Vũ Thang hợp ngũ linh tán gia giảm.
(Phụ tử, Nhục quế ôn Thận, tráng dương; Bạch truật, Bạch linh, Trư linh, Trạch tả kiện Tỳ lợi thủy, Sinh khương tán hàn, thông mạch giúp lợi thủy.
Những thể bệnh trên đây thường hay gặp trên lâm sàng của chứng tâm quí trong nhiều bệnh khác nhau có thể giúp cho biện chứng luận trị.
Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm
CHÂM CỨU TRỊ HỒI HỘP
Đởm Hư: Trấn kinh, ôn Đởm.
Châm Thiên ứng, Thần môn (Du huyệt của Tâm để trị bệnh của kinh Tâm, Hư thì bổ để trấn Tâm, an thần. Thực thì tả để thanh Tâm, an thần. Nội quan, Công tôn (hai huyệt này thông với mạch Âm duy và mạch Xung là hai mạch giao hội ở Tâm và ngực để trị bệnh Tim). Đản trung (huyệt hội của khí để đại bổ Tâm khí), bổ Tâm du (bổ Tâm huyết, tráng Tâm khí). Tả Phong long (trừ đờm), bổ Đởm du (cường Đởm, trấn kinh, trừ khiếp).
Lo Nghĩ Quá Độ: Bổ huyết dưỡng Tâm, bổ tỳ, ích Vị.
Châm Thiên ứng (thông kinh hoạt lạc, trấn thống), Thần môn (du huyệt để trị bệnh của bản kinh); Nội quan, Công tôn (hai huyệt này thông với mạch Âm duy và mạch Xung là hai mạch giao hội ở Tâm và ngực để trị bệnh Tim). Đản trung (huyệt hội của khí để đại bổ Tâm khí), bổ Tâm du (bổ Tâm huyết, tráng Tâm khí). Tỳ du, Vị du (bổ Tỳ Vị, sinh huyết mới).
Thận Thủy Suy (Hư Hỏa Bốc Lên): Tư âm, bổ Thận, giáng hỏa.
Châm Thiên ứng (thông kinh hoạt lạc); Thần môn (du huyệt của kinh Tâm để trị rối ở ở Tâm), Nội quan, Công tôn (hai huyệt này thông với mạch Âm duy và mạch Xung là hai mạch giao hội ở Tâm và ngực để trị bệnh Tim). Đản trung (huyệt hội của khí để đại bổ Tâm khí), bổ Tâm du (bổ Tâm huyết, tráng Tâm khí). Tam âm giao, Thái khê (bổ Thận, tư âm, giáng hỏa).