Huyết Áp Thấp Bệnh Học
Huyết Áp Thấp (Đối Chiếu Bệnh Danh: Hypotension - Arterial Hypotension). Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, huyết áp thấp là biểu hiện của sự rối loạn chức năng vỏ não của trung khu thần kinh vận mạch.
Đại Cương
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, huyết áp thấp là biểu hiện của sự rối loạn chức năng vỏ não của trung khu thần kinh vận mạch. Bệnh huyết áp thấp có thể bao gồm huyết áp thấp triệu chứng và huyết áp thấp tư thế.
Huyết áp thấp là khi trị số huyết áp tâm thu dưới 90mmHg và huyết áp tâm trương dưới 60mmHg, mạch áp có hiệu số thường dưới 20mmHg.
Triệu chứng chủ yếu là hoa mắt, chóng mặt.
Huyết áp thấp theo Y Học Cổ Truyền thuộc thể hư của chứng Huyễn Vựng, Hư Lao, Tâm Quý.
Nguyên Nhân
Triệu chứng chính của chứng huyết áp thấp là mệt mỏi, lạnh chân tay, đó là những dấu hiệu của Tỳ khí hư yếu, vì vậy có thể cho rằng nguyên nhân chính gây nên huyết áp thấp là do Tỳ khí hư yếu. Tuy nhiên trên lâm sàng, Tỳ khí hư thường kèm theo một số rối loạn khác như Âm hư, Dương hư, Thấp trệ, Khí trệ, Huyết ứ.
Chẩn Đoán
Chủ yếu dựa vào váng đầu, mệt mỏi, tỉ số huyết áp dưới 90/60mmHg.
Có triệu chứng thiếu máu não kèm theo huyết áp thấp tư thế.
Có một trong 2 điểm trên có thể xác định là huyết áp thấp tư thế.
Biện Chứng Luận Trị
Chứng huyết áp thấp bất kỳ do nguyên nhân nào, theo Y Học Cổ Truyền, đều thuộc chứng hư. Nhẹ thì do Tâm dương bất túc, Tỳ khí suy nhược. Nặng thì thuộc thể Tâm Thận dương suy, vong dương, hư thoát.
Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:
Trung Khí Bất Túc, Tỳ Vị Hư Yếu: Váng đầu, hồi hộp, hơi thở ngắn, tinh thần mệt mỏi, chân tay mềm yếu, sợ lạnh, dễ ra mồ hôi, ăn kém, ăn xong bụng đầy, chất lưỡi nhợt, rêu trắng nhuận, mạch Hoãn, vô lực.
ĐIỀU TRỊ:
Bổ trung, ích khí, kiện Tỳ Vị.
Dùng bài Hương Sa Lục Quân Thang gia giảm (Đảng sâm 8g, Bạch truật 10g, Bạch linh 10g, Đương quy 12g, Hoàng kỳ 12g, Bạch thược 12g, Chỉ thực 8g, Trần bì 8g, Mộc hương 6g, Sa nhân 6g, Quế chi 6g, Chích thảo 4g, Đại táo 12g, Gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
Kiện Tỳ, ích khí.
Dùng bài Thăng Áp Thang: Hoàng kỳ, Đảng sâm đều 30g, Ngũ vị tử 20g, Mạch môn 9g, Sài hồ 3g.
(Thăng Áp Thang là biến thể của bài Sinh Mạch Tán [Nhân sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử] có tác dụng bổ khí mạnh, làm tăng mạch; Hoàng kỳ và Sài hồ ích khí, và đưa thanh khí lên).
Kèm Tâm dương hư (hồi hộp, cảm thấy trống rỗng ở vùng ngực, tay lạnh, móng tay tím tái, môi tím) thêm Long cốt 15g, Chích thảo 9g. Kèm huyết hư thêm Đương quy, Thục địa đều 15g. Kèm âm hư hoả vượng thêm Sinh địa, Huyền sâm đều 9g, Hoàng liên 3g. Tiêu lỏng, mệt mỏi, khó chịu sau khi ăn thêm Phục linh, Bạch truật đều 12g. Kèm Can uất thêm Bạch thược 12g, tăng Sài hồ lên 9g (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
CHÂM CỨU:
Túc tam lý, Tam âm giao, Bá hội, Khí hải.
(Túc tam lý kiện Tỳ, ích khí, thăng áp; Tam âm giao kiện Tỳ, ích khí, dưỡng huyết; Cứu Bá hội và Khí hải có tác dụng đưa thanh khí lên, dùng trị huyết áp thấp. Các huyệt phối hợp có tác dụng đưa dương khí lên để bổ cho thanh khí, bổ não, khai khiếu).
Kèm Tâm dương hư (hồi hộp, cảm thấy trống rỗng ở vùng ngực, tay lạnh, móng tay tím tái, môi tím) thêm Tâm du, Cách du, Nội quan. Kèm huyết hư thêm Cách du, Tỳ du. Âm hư hoả vượng thêm Chiếu hải. Tiêu lỏng, mệt mỏi, khó chịu sau khi ăn thêm Thái bạch. Kèm Can uất thêm Can du, Hồn môn (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
Khí Âm Lưỡng Hư: Đau đầu, chóng mặt, khát, họng khô, lưỡi thon đỏ, ít rêu, khô, mạch Tế Sác.
ĐIỀU TRỊ:
Ích khí, dưỡng âm.
Dùng bài Sinh Mạch Tán gia vị: Tây dương sâm 20g, Mạch môn 16g, Ngũ vị tử 4g, Hoàng tinh 12g, sắc uống (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
Ích khí dưỡng âm.
Dùng bài Sinh Mạch Tán gia vị: Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Sinh địa, Sơn thù du, Câu kỷ tử, Chích thảo đều 12g.
(Đảng sâm, Ngũ vị tử, Mạch môn ích khí, dưỡng âm; Sinh địa thanh nhiệt, lương huyết, tăng dịch; Sơn thù du, Câu kỷ tử bổ ích Can Thận, dưỡng âm, điền tinh).
Kèm dương hư thêm Nhục quế 2g. Khí hư nhiều thêm Hoàng kỳ 20g, Hoàng tinh 15g. Ra mồ hôi thêm Phù tiểu mạch, Hoàng kỳ đều 20g, Bạch thược, Toan táo nhân đều 12g. Miệng và họng khô thêm Tri mẫu, Ngọc trúc đều 9g.Tim hồi hộp thêm Phục thần, Toan táo nhân, Đan sâm đều 12. kèm Can uất thêm Sài hồ, Bạch thược, Hợp hoan bì (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
CHÂM CỨU:
Phục lưu, Tam âm giao, Túc tam lý, Bá hội.
Phục lưu, Tam âm giao dưỡng âm, bổ huyết; Túc tam lý kiện Tỳ, ích khí, đưa thanh khí lên; Cứu Bá hội đưa thanh khí lên, dẫn khí, huyết và tinh lên đầu để bổ cho tuỷ hải.
Kèm dương hư thêm cứu Khí hải. Ra mồ hôi thêm Hợp cốc. Mồ hôi trộm thêm Âm khích. Miệng, họng khô thêm Chiếu hải. Tim hồi hộp thêm Thần môn, Nội quan. Thận âm hư rõ thêm Thận du. Can huyết hư thêm Can du. Tâm âm hư thêm Thần môn. Hư hoả bốc lên thêm Nhiên cốc. Chóng mặt thêm Phong trì (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
Tỳ Thận Dương Hư: Váng đầu, ù tai, mất ngủ, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ăn kém, đau lưng, mỏi gối, chân tay lạnh, sợ lạnh hoặc di tinh, liệt dương, tiểu đêm, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch Trầm Nhược.
ĐIỀU TRỊ:
Ôn bổ Tỳ Thận dương.
Dùng bài Chân Vũ Thang gia vị: Đảng sâm 12g, Chế phụ tử 6 - 8g (sắc trước), Bạch truật 12g, Bạch thược 12g, Bạch linh 12g, Quế nhục 6g, Câu kỷ tử 12g, Liên nhục 12g, Bá tử nhân 12g, Ích trí nhân 10g, Toan táo nhân (sao) 20g, Dạ giao đằng 12g, Gừng tươi 3 lát, sắc uống (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
Ôn bổ Tỳ Thận, bổ Tâm dương.
Dùng bài Kim Quỹ Thận Khí Hoàn gia giảm: Thục địa, Hoàng kỳ, Sơn dược đều 20g, Sơn thù, Phục linh, Bổ cốt chỉ, Qua lâu đều 12g, Phụ tử, Đơn bì, Quế chi, Can khương đều 9g, Chích thảo 6g.
Thục địa, Sơn thù bổ âm, tráng dương; Sơn dược, Phục linh, Can khương, Hoàng kỳ, Quế chi, Chích thảo ôn bổ Tỳ dương, ích khí; Sơn thù, Phụ tử, Quế chi ôn bổ Thận dương. Ngoài ra, Phụ tử, Quế chi cũng bổ Tâm dương; Qua lâu, Đơn bì khoan hung, hoạt Tâm huyết.
Trí nhớ giảm thêm Nhân sâm 6g. Mệt mỏi nhiều thêm Đảng sâm 15g. Tim hồi hộp thêm Long cốt, Long xỉ đều 15g. Ăn kém, tiêu lỏng thêm Bạch truật 12g. Lưng đau, chân mỏi thêm Tục đoạn, Đỗ trọng đều 9g. Can uất thêm Sài hồ, Bạch thược, Hợp hoan bì đều 9g (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
CHÂM CỨU:
Khí hải, Bá hội, Quan nguyên, Túc tam lý.
Cứu Bá hội, Khí hải để thăng thanh khí, thăng áp. Đưa dương khí lên dưỡng thanh khiếu, tỉnh não, khai khiếu. Cứu Quan nguyên ôn bổ Thận dương; Cứu Túc tam lý ôn bổ Tỳ dương.
Kèm Tâm dương hư (hồi hộp, cảm thấy trống rỗng ở vùng ngực, tay lạnh, móng tay tím tái, môi tím) thêm Tâm du, Cách du, Nội quan. Kèm huyết hư thêm Cách du, Tỳ du. Âm hư hoả vượng thêm Chiếu hải. Tiêu lỏng, mệt mỏi, khó chịu sau khi ăn thêm Thái bạch. Kèm Can uất thêm Can du, Hồn môn. Trí nhớ giảm thêm Tứ thần thông. Mệt mỏi nhiều thêm Thái bạch. Hồi hộp nhiều thêm Nội quan. Khó tiêu, tiêu lỏng thêm Lương môn, Âm lăng tuyền. Lưng đau, gối mỏi, yếu thêm Phục lưu. Can uất thêm Gian sử (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
Tỳ Hư Kèm Thấp: Chóng mặt, đau đầu, tức ngực, nôn mửa, ăn khó tiêu, chân tay hơi phù, chân phù nhiều hơn, tiểu ít, tiêu lỏng, lưỡi nhạt, bệu, mạch Nhu, Hoãn, vô lực.
ĐIỀU TRỊ:
Kiện Tỳ, ích khí, hành khí, hoá đờm.
Dùng bài Sâm Truật Ích Khí Thấm Thấp Thang: Ý dĩ nhân 18g, Đảng sâm 12g, Bạch truật, Ngũ gia bì, Phục linh, Trạch tả đều 9g, Chỉ thực 6g, Bạch đậu khấu 4,5g.
Đảng sâm, Bạch truật, Ngũ gia bì kiện Tỳ, ích khí; Phục linh, Ý dĩ nhân, Trạch tả lợi thuỷ, thấm thấp; Bạch đậu khấu, Chỉ thực điều khí cơ.
Can uất thêm Sài hồ, Bạch thược đều 9g. Huyết áp thấp tư thế đứng bị nặng, mệt mỏi thêm Hoàng kỳ 15g. Tiêu lỏng, huyết áp tư thế đứng thêm Thăng ma 6g, Sài hồ 3g. Huyết hư thêm Đương quy (tẩm gừng) 6g, Bạch thược 9g (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
CHÂM CỨU:
Bá hội, Túc tam lý, Trung quản, Phong long, Thương khâu.
Cứu Túc tam lý, Bá hội để nâng thanh khí lên não, làm thăng áp. Tả Trung quản, Phong long, Thương khâu táo thấp, hoá trọc.
Tỳ khí hư rõ thêm Tỳ du, Vị du. Huyết hư thêm Cách du, Can du, Tỳ du. Can uất, khí trệ thêm Thái xung, Nội quan. Tim hồi hộp thêm Nội quan, Thần môn (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
Khí Hư Huyết Ứ: Huyết áp thấp, đôi khi thấp thỉnh thoảng cao, tương ứng với chứng mỡ máu cao, chóng mặt, đầu đau, ngực đầy, đau như kim đâm, tim phiền, hơi thở ngắn, tinh thần mệt mỏi, không có sức, lưỡi tối, có điểm ứ huyết, mạch Huyền, Hoãn, Sắc.
ĐIỀU TRỊ:
Hoá đờm, đoạ trọc, ích khí, hoạt huyết.
Dùng bài Hoàng Tinh Đảng Sâm Thăn Áp Thang: Cát căn, Xuyên khung đều 18g, Hoàng tinh, Đảng sâm đều 12g, Bán hạ, Phục linh, Thạch xương bồ, Sơn tra, Xích thược, Quyết minh tử đều 9g.
Hoàng tinh, Đảng sâm dưỡng Tâm, ích khí; Bán hạ, Phục linh, Thạch xương bồ khứ đờm, hoá trọc; Xuyên khung, Cát căn, Sơn tra, Xích thược, Quyết minh tử hành khí, hoạt huyết, dãn mạch, thăng áp.
Mệt mỏi thêm Hoàng kỳ 18g. Can uất khí trệ thêm Sài hồ, Bạch thược đều 9g. Huyết hư thêm Kê huyết đằng 18g, Đương quy 9g (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
CHÂM CỨU:
Bá hội, Túc tam lý, Tam âm giao, Cách du.
Bổ Túc tam lý, Bá hội để thăng dương, tỉnh não, thăng áp. Tả Tam âm giao, Cách du hành huyết, hoá ứ.
Tỳ hư thêm Thái bạch, Tỳ du. Tâm phiền, ngực đầy thêm Nội quan, Thần môn. Đờm trọc thêm Phong long, Trung quản. Huyết hư bình bổ bình tả Tam âm giao, Cách du, bổ Can du, Tỳ du. Can uất thêm Thái xung, Nội quan (The Treatment Of Modern Western Diseases With Chinese Medicine).
Tâm Dương Hư Thoát: Váng đầu, hoa mắt, tinh thần mỏi mệt, buồn ngủ, ngón tay lạnh, chất lưỡi nhạt, thân lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch Hoãn, không lực hoặc Trầm Tế.
ĐIỀU TRỊ:
Ôn bổ Tâm dương.
Dùng bài Quế Chi Cam Thảo Thang gia vị: Nhục quế, Quế chi, Chích cam thảo đều 10g, mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 9 – 12 thang hoặc hãm với nước sôi uống như nước trà.
Gia giảm: Chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô là chứng khí âm bất túc, thêm Mạch môn, Ngũ vị tử để ích khí, dưỡng âm. Khí hư, ít nói, ra mồ hôi: Bổ khí thêm Hồng sâm để bổ khí, trợ dương. Huyết áp tâm thu dưới 60mm/Hg, chân tay lạnh, có triệu chứng vong dương, bỏ Quế chi, thêm Hồng sâm, Phụ tử (chế) để hồi dương, cứu thoát (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
CHÂM CỨU:
Cứu các huyệt Bách hội, Túc tam lý, Quan nguyên, Khí hải, Dũng tuyền có thể chọn 3 hoặc 4 huyệt mỗi lần (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).Ó
5hBỆNH ÁN HUYẾT ÁP THẤP
(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q. Thượng)
Nguỵ X, nữ, 49 tuổi. Thường bị huyết áp thấp, thường trong khoảng 100 – 90/60-50mmHg. Mệt mỏi, trèo lên cao hoặc hoạt động mạnh thì váng đầu, tim hồi hộp, thở gấp. Một tháng nay, bệnh càng nặng thêm, đã bị ngất hai lần. Ngày 13-8-1979 sơ chẩn thấy thể trạng tương đối khá, gầy ốm, sắc mặt vàng, tim đập nhanh 94 lần/phút, nhịp đều, lưỡi nhạt, đầu lưỡi đỏ, rêu bình thường, mạch tế nhược, huyết áp 86/56mmHg. Cho dùng Phù Chính Thăng Áp Thang Gia Vị: Nhân sâm 10g (hoặc Nam Ngũ gia bì 15g), Mạch môn, Chích thảo, Trần bì, A giao đều 15g, Ngũ vị tử 12g, Sinh địa 20 ~ 30g, Chỉ xác 10g, Hoàng kỳ 30g. Sắc uống. Uống 3 thang thì các triệu chứng đỡ rõ rệt. Huyết áp tăng lên 96/70mmHg. Uống thêm 9 thang nữa, cơ bản hết các triệu chứng, huyết áp tăng lên
Bệnh Án
BỆNH ÁN HUYẾT ÁP THẤP
(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q. Thượng)
Nguỵ X, nữ, 49 tuổi. Thường bị huyết áp thấp, thường trong khoảng 100 – 90/60-50mmHg. Mệt mỏi, trèo lên cao hoặc hoạt động mạnh thì váng đầu, tim hồi hộp, thở gấp. Một tháng nay, bệnh càng nặng thêm, đã bị ngất hai lần. Ngày 13-8-1979 sơ chẩn thấy thể trạng tương đối khá, gầy ốm, sắc mặt vàng, tim đập nhanh 94 lần/phút, nhịp đều, lưỡi nhạt, đầu lưỡi đỏ, rêu bình thường, mạch tế nhược, huyết áp 86/56mmHg. Cho dùng Phù Chính Thăng Áp Thang Gia Vị: Nhân sâm 10g (hoặc Nam Ngũ gia bì 15g), Mạch môn, Chích thảo, Trần bì, A giao đều 15g, Ngũ vị tử 12g, Sinh địa 20 ~ 30g, Chỉ xác 10g, Hoàng kỳ 30g. Sắc uống. Uống 3 thang thì các triệu chứng đỡ rõ rệt. Huyết áp tăng lên 96/70mmHg. Uống thêm 9 thang nữa, cơ bản hết các triệu chứng, huyết áp tăng lên ḀTheo Y Học Hiện Đại (Triệu Chứng Học Nội khoa)
Nơi người lớn tuổi:
Chảy máu não do tăng huyết áp.
Nhũn não vì động mạch bị tắc.
– Trong bịnh xơ cứng động mạch.
– Hoặc do cục máu phát sinh tại chỗ hoặc từ xa đưa đến như trong trường hợp van 2 lá.
Nơi người trẻ:
Các bịnh tim.
– Hẹp van 2 lá
– Viêm màng trong tim cấp, loét sùi hoặc bán cấp ác tính.
Viêm động mạch do giang mai.
Do nhuyễn não hoặc xuất huyết não, do Ha tăng.
Nơi trẻ nhỏ:
Động mạch bị viêm do virút.
Màng não hoặc não bị viêm (do vi rút, vi khuẩn hoặc lao).
Biến chứng não của bịnh tai giữa viêm, xương chũm tai viêm.
Chung cho cả 3 loại.
U não.
Áp xe não.
Theo Y Học Cổ Truyền
Thiên Điều Kinh Luận (Tố Vấn 62) ghi: "Khí và huyết cùng đi lên thì gây ra chứng Đại Quyết".
Thiên Thích Tiết Chân Tà (Linh Khu 75) ghi: "Hư tà xâm nhập vào nửa người đi vào sâu, trú ở phần Vinh vệ, Vinh vệ yếu thì chân khí bị mấy, chỉ còn lại tà khí, gây nên chứng Thiên khô".
Sách Kim Quỹ Yếu Lược, mục Trúng Phong ghi: "Kinh mạch hư không, phong tà thừa cơ xâm nhập".
Đời nhà Nguyên, Thanh các tác giả của:
Sách Hà Gian Lục Thư cho là tâm hoả quá vượng.
Sách Đông Viên Thập Thư cho là Chính khí hư.
Sách Đan Khê Tâm Pháp chủ trương do Thấp, Đờm và Nhiệt gây ra. Các tài liệu trên đều cho rằng nguyên nhân gây nên trúng phong do yếu tố bên trong (nội tại)
Sau này sách giáo khoa triển khai thêm:
Theo sách Nội Khoa Học Thượng Hải, trúng phong thường do:
Tình chí bị tổn thương, sinh hoạt mất bình thường, âm dương trong người bị rối loạn, đặc biệt thận âm suy yếu không chuyển lên tim được. Tâm hoả vượng lên, Can không được nuôi dưỡng, Can hoả bốc lên trên, sau cùng Can hoả bạo phát, máu bị dồn lên gây ra bịnh này.
Ăn uống không điều độ, lao lực quá sức, tỳ không kiện vận được làm thấp đình trệ lại sinh đờm, đờm uất hoá nhiệt, Can phong cùng đởm quấy nhiễu bên trên, che kín thanh khiếu, nhập vào kinh lạc mà phát bịnh đột ngột.
Do cơ thể vốn đã bị âm hư dương vượng, đờm trọc quá thịnh lại thêm ngoại cảm phong tà thức đẩy nội phong gây ra bịnh.
Như vậy Phong (Can phong), Hoả (tâm hoả, Can hoả) đàm (thấp đàm), phong đàm, Khí (khí hư, khí nghịch), Huyết (huyết ứ) ảnh hưởng lẫn nhau gây ra chứng Trúng Phong.
Theo sách Nội Khoa Học Thành Đô, 2 yếu tố chính gây ra chứng Trúng Phong:
Can phong nội động và liên hệ cả với Thận, Tâm và Tỳ nhưng Can là chính.
Khí hư huyết ứ.
Sách Châm Cứu Học Giảng nghĩa giải thích:
Nguyên nhân phát sinh chứng Trúng phong chủ yếu do Âm Dương Tạng Phủ của người ta bị mất quân bình mà lại hay lo buồn tức giận, hoặc uống rượu, lao lực, phòng sự... làm cho phong dương bùng lên, tâm hoả vượng lên, khí huyết cùng đi lên, đởm trọc, vít lấy các khiếu, lạc, làm cho công năng của tạng phủ hoặc huyết bị mất gây thành chứng thoát...
Theo sách Châm cứu Học Việt Nam nguyên nhân gây ra trúng phong liệt nửa người thường do:
Nhân tố bên ngoài (hư tà tặc phong) tác động đột ngột vào kinh lạc, tạng phủ.
Nhân tố bên trong: Hoả thịnh (do thận thuỷ suy kém, tâm hoả bốc lên, bịnh liên hệ với tâm-thận). Phong dương (do thận âm hư can dương vượng, gây ra nội phong-bịnh liên hệ với can-thận) Đờm nhiệt (do thấp sinh đờm, đờm uất trệ sinh nhiệt, nhiệt thịnh sinh phong - bịnh thuốc tỳ vị).
Chủ yếu là do âm dương mất quân bình, thận âm hư, can dương vượng, đờ, tắc tâm khiếu gây ra.
Tham Khảo
NHỮNG BÀI THUỐC KINH NGHIỆM
Quế Cam Trà (Vương Hưng Quốc, tỉnh Sơn Đông, Sở Nghiên cứu Trung y Tế Ninh): Quế chi, Cam thảo đều 9g, Quế tâm 3g, ngày 1 gói, hãm nước sôi uống. Liệu trình 50 ngày.
Kết quả lâm sàng: Dùng trị 48 ca huyết áp dưới 86/60mmhg, có 36 ca huyết áp lên trên 100/70mm/Hg, 8 ca huyết áp ổn định mức 90/60mm/Hg, 4 ca không kết quả, tỉ lệ kết quả 91,66%.
Quế Chi Cam Phụ Thang (Dương Vạn Lâm, tỉnh Hắc Long Giang, Trung quốc): Quế chi, Cam thảo, Xuyên phụ tử đều 15g, ngày 1 thang, hãm nước sôi uống thay trà.
Kết quả lâm sàng: Đã dùng trị 38 ca, thường sau khi dùng 4 - 12 thang, huyết áp lên với mức độ khác nhau. Trước khi dùng thuốc, huyết áp bình quân 90 - 80/70 – 50mm/Hg, sau điều trị huyết áp lên bình quân 110,5/68,5mm/Hg. 85% bệnh nhân huyết áp được củng cố.
Ghi chú: Lúc dùng thuốc bệnh nhân ngủ kém thêm Dạ giao đằng 50 - 70g.
Trường hợp nặng có thể thêm Hồng sâm 15 - 25g, Phụ tử tăng lên đến 30g, sắc trước 1 giờ. Trước khi dùng bài này tác giả đã dùng các bài Bổ Trung Ích Khí Thang, Quy Tỳ Thang, nhưng kết quả không rõ rệt.
Thục Địa Hoàng Kỳ Thang (Vương Triệu Khuê, Hà Bắc): Thục địa 24g, Sơn dược 24g, Đơn bì, Trạch tả, Phục linh, Mạch môn, Ngũ vị tử đều 10g, Sơn thù 15g, Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm 6g (Đảng sâm 12g) sắc uống.
Biện chứng gia giảm: Khí hư rõ dùng Hoàng kỳ 20 - 30g; Khí âm lưỡng hư, thay Nhân sâm bằng Thái tử sâm 20g; Huyết hư thêm Đương qui; Váng đầu nặng thêm Cúc hoa, Tang diệp; Âm hư hoả vượng thêm Hoàng bá, Tri mẫu; Kèm thấp, trọng dụng Phục linh; Lưng gối nhức mỏi, chân sợ lạnh thêm Phụ tử, Nhục quế.
Kết quả lâm sàng: Đã dùng trị 31 ca, kết quả tốt (huyết áp hồi phục lên 120/80mmHg) 21 ca, tỷ lệ 67,7%, có kết quả (huyết áp hồi phục trên 90/60mm/hg) 10 ca (32,3%. Lượng thuốc uống nhiều nhất là từ 8 đến 20 thang, ít nhất 8 thang.
Trương Thị Thăng Áp Thang (Trương Liên Ba, tỉnh Giang Tô): Đảng sâm 12g, Hoàng tinh 12g, Nhục quế 10g, Đại táo 10 quả, Cam thảo 6g. Sắc uống. 15 ngày là một liệu trình.
Kết quả lâm sàng : Đã trị 30 ca liên tục 1 liệu trình, hầu hết trở lại bình thường, huyết áp trở lại bình thường 15 ca. Uống thuốc 2 liệu trình, triệu chứng bệnh hết 18 ca, còn 2 ca không kiên trì chữa bệnh.
Thăng Áp Thang (Y Học Văn Tuyển 1988 (1): Quế chi, Nhục quế đều 30g, Cam thảo 15g. Sắc uống.
Tác Dụng: Trợ dương thăng áp. Trị huyết áp thấp.
Thường uống 2-3 thang là huyết áp có thể tăng lên, phục hồi lại như bình thường.
Phù Chính Thăng Áp Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Nhân sâm 10g (hoặc Nam Ngũ gia bì 15g), Mạch môn, Chích thảo, Trần bì, A giao đều 15g, Ngũ vị tử 12g, Sinh địa 20– 30g, Chỉ xác 10g, Hoàng kỳ 30g. Sắc uống.
Tác Dụng: Ích khí dưỡng âm. Trị khí âm đều hư, huyết áp thấp.
Một số vị thuốc được coi là có tác dụng làm tăng áp: Ma hoàng, Chỉ thực, Bạch truật, Ngải diệp, Bổ cốt chỉ, Linh chi, Hồng hoa, Tế tân, Hoàng kỳ, Lộc nhung, Nhân sâm, Ngũ vị tử.4(P5ĂBán Thân Bất Toại - Hémiplégie – HemiplegySách Tự điển điều trị học thực hành định nghĩa: Liệt nửa người là khi mất hoặc giảm vận động ở một hoặc nhiều dây thần kinh sọ não, một tay, một chân.
Đa số bịnh này là do di chứng của tai biến mạch máu não gây ra.
Theo báo cáo của Hiệp hội Tim của Mỹ năm 1977 ở Mỹ có đến 1,6 triệu người bị bịnh này. Và hằng năm có khoảng 500.000 trường hợp mới bịnh, phần lớn xẩy ra sau 55 tuổi.
Y Học Cổ Truyền xếp vào loại Thiên Khô, Đại Duyệt (Nội Kinh), Bán Thân Bất Toại, Trúng Phong, Thốt Trúng, Loại Trúng, Não Huyết Quản Y Ngoại (Kim Quỹ Yếu Lược - Châm Cứu Học Thượng Hải), Thân Hoán (Châm Cứu Đại Thành). Phong Phì, Phong Y (Trung Y Học Khái Luận).
Sách Y Kinh Tố Hồi Tập ghi: "Có người thình lình ngã ra cứng đờ, hoặc một nửa người bị liệt không cử động được, hoặc tay chân không co lại được, hoặc hôn mê không biết gì, hoặc chết hoặc không chết, thông thường gọi đó là Trúng Phong mà trong các sách cũng nhận là Trúng Phong mà chữa"