🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Parkinson Bệnh Học

Parkinson. Còn gọi là bệnh Liệt Run, xẩy ra do có những tổn thương thoái hoá ở vài vùng trên não, đưa đến sự thiếu hụt chất sinh học là Dopamin.

Đại Cương

Còn gọi là bệnh Liệt Run, xẩy ra do có những tổn thương thoái hoá ở vài vùng trên não, đưa đến sự thiếu hụt chất sinh học là Dopamin.

Bệnh được mô tả đầu tiên vào năm 1817, do nhà y học James Parkinson.

Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi, từ 50-65.

Đông y gọi là Ma Mộc, Tứ Chi Nhuyễn Nhược, Chấn Chiến. Giai đoạn cuối cùng của bệnh được xếp vào loại Nuy Chứng.

Nguyên Nhân

Theo Y Học Hiện Đại

Nhiều tác giả cho là do xơ vữa động mạch não làm tổn thương các tế bào vùng ngoài tháp, nhất là ở vùng nhân xám.

Hội chứng liệt run xẩy ra sau viêm não phát dịch, viêm não do cúm, sau khi bị nhiễm độc thuỷ ngân, Asen CO, các dẫn chất của Phenothiazin, Resecpin, hoặc do bệnh giang mai thần kinh.

Theo Y Học Cổ Truyền, có thể do:

Do tiên thiên bất túc.

Ảnh hưởng vì tuổi già.

Bệnh mạn tính

Lao động quá sức.

Ảnh hưởng bởi thất tình bị tổn thương.

Suy dinh dưỡng.

Nguyên nhân chính gây nên bệnh Parkinson là do ảnh hưởng của tuổi già, do Can huyết và Thận âm bị suy yếu. Huyết bị suy kém không nuôi dưỡng được các khớp và các mạch máu gây nên co rút, co cứng, run giật. Âm hư thì dương vượng sẽ khiến cho Can phong nội động. Nếu phong hợp với đờm thấp thì kinh lạc sẽ bị ngăn trở gây ra run.

Cũng có thể do uất ức, giận dữ làm tổn thương Can. Can mất chức năng sơ tiết, khí sẽ bị uất kết. Khí có tác dụng hành huyết, vì thế, khí bị ngăn trở thì huyết sẽ bị ứ trệ. Huyết bị ứ trệ sẽ không nuôi dưỡng được các khớp, không sinh ra được huyết mới. Vì vậy các khớp không được nuôi dưỡng sẽ gây nên cứng, khó cử động, co giật, run. Ăn uống kém dinh dưỡng, tuổi già, lo âu, ưu tư, mệt mỏi, Tỳ hư có thể dẫn đến Thận hư, Thận dương hư. Tỳ Thận hư không vận hoá được thuỷ dịch trong cơ thể, thuỷ dịch hoá thành thấp, tụ lại thành đờm. Đờm thấp ngăn trở trong kinh mạch hoá thành nhiệt, khiến cho phong quấy động gây nên run.

Chẩn Đoán

Bệnh diễn tiến âm thầm, triệu chứng có thể chỉ ở một bên cơ thể. Đến khi có các triệu chứng sau đây bệnh mới được phát hiện:

Tăng trương lực cơ: đặc trưng bởi hiện tượng bánh xe răng cưa, xuất hiện khi bệnh nhân co duỗi thụ động các khớp cổ tay, khuỷu tay.

Run: thường ở đầu ngón tay, trường hợp nặng có thể run cả cẳng tay và bàn tay. Đặc điểm là run xuất hiện khi nghỉ và giảm mất khi người bệnh chú ý làm việc khác, bàn tay vê vê như đếm tiền.

Mặt bất động: vẻ mặt trở nên cứng, không biểu hiện được cảm xúc trên khuôn mặt, dù mắt rất linh hoạt.

Rối Loạn Dáng Đi: đi chậm, đầu hơi cúi, lưng hơi khom, cẳng tay hơi gấp, chân hơi co và không đánh tay được. Khi để đoạn chi ở một tư thế nào đó thì nó lâu trở lại vị trí bình thường.

Ngoài ra còn có biểu hiện tăng tiết nước miếng, mặt bóng, những cơn đỏ bừng mặt do rối loạn thần kinh thực vật.

Chẩn Đoán Phân Biệt

Cần phân biệt với bệnh Run Vô Căn.

RUN CỦA BỆNH PARKINSON

Đơn phát, phát lẻ tẻ

Tiến triển tương đối ngắn (3-5 năm)

Cách viết chữ nhỏ dần

Chủ yếu là lúc nghỉ.

Phân bố ở nửa người.

Run chi trên tiến đến chi dưới cùng bên trước khi thành hai bên.

Kết hợp run ở cằm, hàm, lưỡi, tránh cổ và tiếng nói.

RUN VÔ CĂN

Gia đình, trong hơn 50% trường hợp.

Tiến triển thật châm.

Chữ viết run.

Chủ yếu là tư thế.

Bất đối xứng, không rõ rệt.

Từ chi trên tiến đến chi dưới, đối bên.

Kết hợp với run ở cổ và tiếng nói (tư thế lắc đầu nói 'không' và tiếng giọng giống tiếng dê kêu).

Biện Chứng Luận Trị

Hernia – Hernie

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học