🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Sán Khí Bệnh Học

Sán Khí (Đối Chiếu Bệnh Danh: Hernia – Hernie). Bệnh Sán theo sách cổ chép, có hàm hai ý nghĩa khác nhau: Một là chỉ về trong bụng đau do bị kích thích, chỉ về bệnh đau lan từ bụng dưới đến dịch hoàn.

Đại Cương

Bệnh Sán theo sách cổ chép, có hàm hai ý nghĩa khác nhau:

Một là chỉ về trong bụng đau do bị kích thích, chỉ về bệnh đau lan từ bụng dưới đến dịch hoàn.

Hai là dịch hoàn sưng đau.

Thiên Cốt Không Luận (Tố Vấn 60) viết: "Mạch nhâm sinh bệnh con trai là 7 chứng sán kết ở trong" (7 chứng Sán là Quyết Sán, Xung Sá), Hà Sán, Hồ Sán, Lung Sán, Đồi Sán, Đồi Sán.

Chứng Hàn Sán trong sách Kim Quỹ Yếu Lược chỉ nêu về chứng đau bụng, cho nên chép ở thiên đau bụng.

Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận gọi 7 chứng sán là: Quyết Sán, Trưng Sán, Hàn Sán, Khí Sán, Bàn Sán, Phụ Sán, và Lang Sán.

Sách Nho Môn Sự Thân bàn về 7 chứng sán là: Hàn sán. Thuỷ Sán, Hồ Sán, Can Sán, Huyết Sán, Đồi Sán Và Khí Sán. Trương Tử Hoà dựa vào lý luận của người xưa, kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng mà suy xét kỹ thêm. Các chứng mà ông trình bày, trừ chứng Huyết Sán, Can Sán, thuộc về bệnh ngoại khoa, còn phần lớn đều thuộc về chứng sán khí đau rút dịch hoàn.

Chứng Bôn đồn khí, chứng trạng giống với chứng Xung Sán mô tả trong sách Nội Kinh (từ bụng dưới xông lên tim mà đau; đại tiểu tiện không được là Xung sán), có chỗ hơi giống nhau, vì vậy chúng tôi xếp vào đây để giúp dễ dàng cho việc biện chứng.

Nguyên Nhân

Bệnh sán tuy được coi là do mạch Nhâm gây nên, nhưng có quan hệ rất mật thiết với tạng Can.

Thiên Kinh Mạch (Linh Khu 10) viết: "Mạch túc quyết âm Can đi qua bộ phận sinh dục, đến bụng dưới, đàn ông sinh chứng hội sán, đàn bà bụng dưới sưng, chủ yếu là ở Can sinh ra".

Thiên Cốt Không Luận (Tố Vấn 60) viết: "Nhâm mạch gây bệnh, ở nam giới thì bên trong kết thành chứng Thất Sán, ở phụ nữ thì thành chứng Đới Hạ".

Sách Nho Môn Sự Thân viết: "Các chứng sán đều thuộc về Can kinh".

Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận viết về chứng sán: "Các chứng sán là âm khí tích ở trong, lại bị hàn khí lấn vào, làm cho vinh vệ không điều hoà, huyết khí hư nhược cho nên gió lạnh lọt vào trong bụng mà thành bệnh sán".

Sách Cảnh Nhạc Toàn Thư viết: "Bệnh sán khí, có hàn chứng, cũng có nhiệt chứng, tất nhiên trước vì phong thấp, hoặc ăn thức nóng lạnh, sống làm cho tà tụ lại ở phần âm, đó là lúc đầu đều do hàn thấp sinh ra". Như thế đủ thấy rằng tà khí phong, hàn, thấp, nhiệt, đều có thể phát ra bệnh sán khí. Ngoài ra do khóc, giận dữ, khí mất sự thông lợi, khí hư hãm xuống, cũng có thể gây nên bệnh.

Sách Chứng Trị Chân Thuyên viết: "Cách chung, 7 chứng sán gây bệnh nếu không phải là phong lao gây nên, thì cũng là do đi đường xa gian khó, lội nước dầm băng".

Sách Y Học Nhập Môn viết: "Chứng khí, sán khí, trên liền với thận du, dưới vào bìu dái, mắc bệnh là do khóc, giận dữ sinh uất mà sưng lên, hoặc làm việc nặng nhọc cưỡi ngựa, đến nỗi hòn dái sưng chướng".

Cũng có thể do tiên thiên mà thành. Sách Nho Môn Sự Thân viết: "Trẻ nhỏ cũng có bệnh này, tục gọi là tiên khí, là bệnh từ trong thai".

Sách Châm Cứu Học Giảng Nghĩa (Sán Khí) viết: "Nguyên nhân gây nên bệnh Sán Khí rất nhiều nhưng không ngoài sự xâm nhập của hàn, nhiệt và thấp khí, khiến cho khí huyệt bị ủng trệ ở mạch Nhâm và kinh Can gây ra bệnh".]q.

Triệu Chứng

Biện Chứng

7 chứng Sán theo Nan Kinh là:

Lung Sán: Tiểu không thông.

Xung Sán: Đau từ bụng dưới có khí đưa lên trên.

Quyết Sán: Chứng khí công kích, bốc lên bất cứ trên dưới, phải trái, tay chân lạnh.

Hà Sán: Trong bụng có khối u (trưng hà) nóng mà đau.

Đồi Sán: Khí làm đau nhức từ bụng dưới lan xuống đến dịch hoàn làm cho dịch hoàn sưng to như cái đấu.

Hồ Sán: Dịch hoàn chạy vào trong bụng, khi nằm xuống nó sẽ chạy ra khỏi bụng, khi đứng lên nó lại tụt vào bên trong.

Đồi Sán: Dịch hoàn sưng to, cứng như đá, đau lan đến rốn.

7 chứng sán khí do Trương Tử Hoà phân loại đã lưu truyền từ lâu, sau này vẫn theo như thế, trong đó, trừ chứng Huyết sán, Can sán, không thuộc vào bệnh ở dịch hoàn hoặc bìu dái, còn chứng trạng của 5 thứ sán khí khác theo sách Nho Môn Sự Thân là:

Hàn sán: Bìu dái lạnh, cứng như đá, ngọc hành không cử động được, hoặc hòn dái bị co rút gây đau.

Đồi sán: Bìu dái sệ xuống, như cái thúng, cái đấu, không ngứa, không đau.

Thấp sán: Bìu dái không đau, mồ hôi thường ra ở âm nang, hoặc bìu dái sưng đau, hình dạng giống như thuỷ tinh, hoặc bìu dái ngứa mà khô, chảy nước vàng, hoặc ấn vào bụng dưới có tiếng ọc ạch.

3 thứ bệnh sán ở trên, đều là bệnh ở bìu dái, hòn dái, hoặc sưng hoặc đau. Đặc điểm của hàn sán là cứng như đá, Đồi sán thì bìu dái to như cái thúng, Thuỷ sán trong có thuỷ thấp đình trệ.

Hồ sán: hình như hòn ngói khi nằm thì thu vào bụng dưới đi đứng thì tự bụng dưới xuống bìu dái.

Khí sán: Chứng trạng liền với khu vực thận dưới, hoặc do kêu khóc giận dữ, thì khí uất kết lên mà chướng, giận dữ, kêu khóc hết thì khí tản ra. Chứng sán này do khí trệ sinh ra, trên lâm sàng thấy rất nhiều.

2 loại bệnh sán trên đây gọi là bệnh trong bìu dái. Hồ sán bắt đầu thấy ở Nội Kinh, sách Kim Quỹ Yếu Lược viết: "Chứng âm hồ sán khí, bên to, bên nhỏ, khi lên, khi xuống". Tức là chứng Thiên truỵ, hoặc chứng Tiểu trường sán khí.

Sán là do giận dữ kêu khóc mà sinh ra, hay gặp ở người lớn, thường do quá lao lực, hoặc lúc gắng sức quá mà phát ra, sau khi thôi giận khóc, hoặc nằm yên, bệnh nhẹ thì cũng có thể tự khỏi.

Trên đây ngoài chứng Huyết sán, Can sán ra, còn các chứng khác, dù có quan hệ với sự uất trệ của khí huyết ở Can kinh, chứng Hàn sán là do âm hàn ngưng kết, cho nên cứng như đá; Đồi sán là do thấp khí nặng, cho nên sưng to nặng trĩu; Thuỷ sán là do thuỷ thấp tụ lại; Hồ sán thì thiên về khí hư, mà khí sán thuộc về khí trệ.

Cũng nên xem xét thân thể người bệnh khoẻ hay yếu, mạch thịnh hay suy, hàn hoặc nhiệt, mới có thể chẩn đoán được bệnh tình mà tiến hành điều trị.

Sách Châm Cứu Học Giảng Nghĩa nêu ra ba trường hợp sán khí thường gặp trên lâm sàng là:

Hàn Sán: Bìu dái lạnh đau, dịch hoàn cứng, co rút lên đến bụng dưới, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Trầm Tế.

Thấp Nhiệt Sán: Bìu dái sưng nóng, dịch hoàn căng đau, kèm sốt, sợ lạnh, nước tiểu vàng, táo bón, khát, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác.

Hồ Sán: Bụng dưới và bìu dái căng đau, nằm thì rút vào bụng, đứng lên thì sa xuống. Lâu ngày thì không còn cảm giác đau rõ, làm cho một bên bìu dái sưng to.

Biện Chứng Luận Trị

Chứng sán khí, Trương Cảnh Nhạc cho hàn là gốc bệnh, thấp nhiệt là ngọn, do Can khí không thông lợi, cho nên phép chữa chủ yếu là điều khí, sơ Can. Thiên về thấp thì dùng lợi thấp để lý khí; thiên về nhiệt, thì dùng thanh nhiệt để lý khí. Nếu bệnh sán lâu ngày, nguyên khí bị hư hàn, hơi làm nhọc mệt là phát ngay, hoặc thiên truỵ lâu ngày không khỏi, nên phối hợp với mạch chứng, có thể dùng thuốc bổ.

Vì bệnh sán khí là trong thực có hư, cần phân biệt cho rõ.

Phép Ôn Can Tán Hàn: chữa chứng sán khí do hàn (Hàn sán) phát ra sưng đau nhức, nên dùng Noãn Can Tiễn hoặc Thiên Thai Ô Dược Tán. Chứng Hồ sán lúc lên lúc xuống có thể dùng thêm bài Kim Quỹ Tri Thù Tán.

Phép Thanh Nhiệt Lợi Thấp: Chữa sán khí sưng nặng, đau nhức, chỗ đau mầu đỏ, tiểu tiện ngắn, nước tiểu đỏ, nên dùng Đại Phân Thanh Ẩm.

Phép Hành Khí Tiêu Kiên: chữa chứng Đồi sán, khí trệ huyết ứ sưng đau, cứng rắn, lâu không tiêu, nên dùng các bài Lệ Hương Tán, Tế Sinh Quất Hạch Hoàn.

Phép Bổ Trung Thăng Đề: chữa sán khí, thiên truỵ, không co lên được, hoặc khi mệt nhọc quá lại phát ra, nên dùng Bổ Trung Ích Khí Thang.

Phép Hành Thuỷ Tiêu Kiên: chữa Thuỷ sán thuộc nhiệt, dùng Đại Phân Thanh Ẩm, thuộc hàn dùng Tế Sinh Quất Hạch Hoàn. Chứng thực đều có thể dùng Vũ Công Tán.

Sách Trung Y Cương Mục nêu lên 3 trường hợp sán khí sau:

Loại Khí Hư Hạ Hãm: Khi lao động nặng, ho mạnh thì bìu dái sưng lên, xệ xuống, kèm ăn ít, tâm phiền, tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng, tay chân mỏi mệt, mạch Vi hoặc Sáp.

ĐIỀU TRỊ:

Bổ trung, ích khí. Dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang gia giảm: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Chích thảo, Quy thân, Trần bì, Thăng ma, Sài hồ, Bạch truật, thêm Xuyên luyện tử, Hương phụ.

Hoàng kỳ là chủ dược để bổ trung ích khí. Hỗ trợ có Đảng sâm, Chích thảo, Bạch truật để ích khí, kiện Tỳ, hợp với chủ dược để ích khí, bổ trung. Tá có Trần bì để lý khí, hoà Vị. Quy thân dưỡng huyết; Thăng ma, Sài hồ giúp cho chủ dược để thăng đề dương khí bị hạ hãm; Xuyên luyện tử, Hương phụ lý khí, thông uất, chỉ thống.

Hàn Thấp Nội Thịnh: Âm nang có khối u, sưng cứng mà lạnh, dịch hoàn đau, thích ấm, sợ lạnh, bụng dưới chướng đau, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch Huyền Khẩn.

ĐIỀU TRỊ:

Ôn kinh, tán hàn. Dùng bài Đương Quy Tứ Nghịch Thang gia giảm: Đương quy, Quế chi, Bạch thược, Tế tân, Ô dược, Tiểu hồi, Ngô thù du, Cao lương khương, Cam thảo, Đại táo.

Đương quy ôn bổ Can huyết; Quế chi ôn thông kinh mạch; Bạch thược dưỡng huyết, hoà vinh. Hai huyệt phối hợp có tác dụng hỗ trợ việc sơ thông kinh khí ở Quyết âm; Tế tân thông huyết mạch, tán hàn tà; Ô dược, Tiểu hồi noãn Can, chỉ thống; Ngô thù du, Cao lương khương ôn trung, tán hàn, chỉ thống; Đại táo, Chích thảo, bổ Tỳ, điều hoà các vị thuốc.

Can Uất Khí Trệ: Tinh thần uất ức, không thoải mái, dễ tức giận, vùng gan đầy tức, bìu dái sưng, xệ xuống, rêu lưỡi trắng, mạch Huyền.

ĐIỀU TRỊ:

Sơ Can, lý khí. Dùng bài Tế Sinh Quất Hạch Hoàn gia giảm: Quất hạch, Thanh bì, Xuyên luyện tử, Hậu phác, Nguyên hồ, Chỉ thực, Mộc hương, Tiểu hồi, Ô dược, Lệ chi hạch, Đào nhân.

Quất hạch hành khí, trị sán; Thanh bì sơ Can, lý khí; Hậu phác, Chỉ thực phá khí tích trệ. Xuyên luyện tử, Mộc hương hành khí, chỉ thống; Nguyên hồ, Đào nhân hoạt huyết, tán kết, Ô dược hành khí, chỉ thống; Tiểu hồi, Lệ chi hạch lý khí, tán kết, tán hàn, chỉ thống.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (2)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học