Mất Ngủ Bệnh Học
Mất Ngủ (Đối Chiếu Bệnh Danh: Insomnia – Insomie). Sách Nội Khoa Học Thượng Hải định nghĩa như sau: "Mất ngủ là một trạng thái bình thường không ngủ được, nhẹ thì muốn ngủ rất khó hoặc giấc ngủ không sâu, khi thức khi…
Đại Cương
Sách Nội Khoa Học Thượng Hải định nghĩa như sau: "Mất ngủ là một trạng thái bình thường không ngủ được, nhẹ thì muốn ngủ rất khó hoặc giấc ngủ không sâu, khi thức khi tỉnh, nặng thì cả đêm không ngủ được".
Sách Nội Khoa Trung Y Học Bắc Kinh, trong bảng tiêu chuẩn chẩn đoán về mất ngủ cho rằng: thời gian ngủ được trong 1 ngày đêm dưới 6 giờ, được coi là mất ngủ.
Y Học Cổ Truyền cũng gọi Bất Mỵ, Bất Đắc Ngoạ, Bất Đắc Miên nhưng thường dùng nhất là Thất Miên.
PHÂN LOẠI
Theo Y Học Hiện Đại
Theo sách Vademecum clinique du Médicine Praticine (Sổ Tay Lâm Sàng Của Thầy Thuốc Thực Hành ) có thể chia làm 2 loại:
Mất ngủ tạm thời: do xáo trộn, thay đổi thói quen như phải làm các ca đêm, di chuyển từ nước này sang nước khác (múi giờ này sang múi giờ khác )... chỉ là trạng thái rối loạn một thời gian ngắn, sau đó có thể thích nghi và ngủ lại được.
Mất ngủ thường xuyên: Do nhiều xáo trộn bịnh lý khác nhau gây ra như bịnh về tim, Bazedow...
Theo Y Học Cổ Truyền
Viện Trung Y Bắc Kinh, dựa theo nguyên nhân gây bịnh chia làm 3 loại:
Mất ngủ thể Tâm, Can, Thận âm hư ( Âm hư).
Mất ngủ thể Tâm Tỳ đều hư.
Mất ngủ thể Âm Dương đều hư.
Sách Nội Khoa Học Thượng Hải chia mất ngủ làm 3 loại:
Mất ngủ do Tâm Tỳ đều suy.
Mất ngủ do âm hư hoả vượng.
Mất ngủ do đờm nhiệt nội nhiễu.
Sách Nội Khoa Học Thành Đô chia mất ngủ làm 4 loại:
Mất ngủ do Tâm Tỳ huyết hư.
Mất ngủ do Tâm hư Đởm khiếp.
Mất ngủ do âm hư Hoả Vượng.
Mất ngủ do thấp đờm che lấp khiếu.
Sách Biện Chứng Kỳ Văn chia làm 5 loại:
Mất ngủ do Can khí táo.
Mất ngủ do Đởm khí khiếp.
Mất ngủ do Can kinh thọ tà.
Mất ngủ do Đởm hư phong tập.
Mất ngủ do Tâm, Thận bất giao.
Riêng loại Tâm Thận bất giao còn được chia ra làm 3 loại:
Tâm không quan hệ với Thận (Tâm bất giao ư Thận) : Mất ngủ về đêm.
Thận không quan hệ với Tâm (Thận bất giao ư Tâm): mất ngủ ban ngày.
Tâm và Thận không quan hệ với nhau (Tâm Thận lưỡng bất tương giao): đêm và ngày đều không ngủ được.
Sách Nội Khoa Học của Trung Y Bắc Kinh còn phân chia mất ngủ theo mức độ nặng nhẹ như sau:
Mức độ nhẹ:
– Thời gian ngủ trong 1 ngày đêm 5-6 giờ.
– Có ít triệu chứng xáo trộn kèm theo.
Mức độ vừa:
– Thời gian ngủ được trong 1 ngày đêm 3-5 giờ.
– Có nhiều triệu chứng khác kèm theo.
Mức độ nặng:
– Thời gian ngủ được trong 1 ngày đêm dưới 3 giờ.
– Cơ thể suy sụp.
Nguyên Nhân
Theo Y Học Hiện Đại
Sách Dictionnaire Médical des Symptomes et Syndrome nêu ra 1 số nguyên nhân gây mất ngủ như sau:
Do kiệt sức, mệt nhiều: Trường hợp này người bịnh ngủ dễ dàng, nhưng thức dậy sau 2 giờ đồng hồ.
Do bịnh gây ngứa.
Do bịnh ở đường tiểu: đái gắt ban đêm, đái nhiều lần ban đêm (tuyến tiền liệt to, có u...)
Bịnh Bazedow.
Suy tim với cơn kịch phát ban đêm, khó thở ở tư thế nằm.
Suy hô hấp.
Suy tuần Hoàn não, xơ cứng động mạch, xơ ứng não.
Bịnh Parkinson.
Hoặc do ngộ độc:
– Cà phê, trà, rượu, thuốc lá.
– Thuốc kích thích, thuốc gây chán ăn ( để làm gầy ốm bớt)
– Sinh tố C, Oxalinic (Urotrate)
– Quen dùng thuốc ngủ. Hoặc là dấu hiệu của loạn Tâm thần:
– Sa sút trí tuệ, lão suy, giấc ngủ nghịch đảo.
– Mê sảng cấp và mạn tính, khởi đầu của tâm thần phân liệt.
– U sầu và trầm cảm nhẹ: biểu hiện bằng thức dậy sớm ( Thường vào khoảng 3-4 giờ sáng)
Có thể tóm gọn như sau:
Người loạn thần kinh do lo lắng, sợ sệt, suy nhược tâm thần hoặc lo âu thực sự do ám ảnh, trường hợp này người bịnh không thể nào ngủ được.
Những người không dỗ được giấc ngủ: Đau, lo âu, ưu tư...
Thức dậy sau 1 giấc ngủ ngắn: quá sức, mệt nhọc.
Thức dậy vào khoảng 2 giờ sáng: ăn không tiêu.
Thức dậy vào khoảng 4 giờ sáng: trạng thái trầm cảm.
Người không ngủ tí nào hết: bịnh tâm thần, lo âu nhiều.
Theo Y Học Cổ Truyền
Sách Nội Khoa Học Thượng Hải nêu ra 3 nguyên nhân, còn sách Nội Khoa Học Thành Đô đưa ra 4 nguyên nhân:
Do Suy Nghĩ, Lo Lắng, Lao Lực Quá Làm Hại Đến Tâm Tỳ, huyết dịch hao tổn, không dưỡng được Tâm làm cho Tâm Thần không yên, gây ra mất ngủ.
Sách Loại Chứng Trị Tài ghi: "Lo nghĩ quá hại Tỳ, huyết ở Tỳ thiếu, nếu lâu ngày sẽ sinh ra mất ngủ."
Sách Cảnh Nhạc Toàn Thư ghi: "Mệt nhọc và lo nghĩ quá làm hao tổn huyết dịch, ảnh hưởng đến thần và hồn sinh ra mất ngủ".
Do Âm Hư Hoả Vượng (Thành Đô), Thuỷ Bất Tế Hoả (Thượng Hải): do cơ thể suy yếu hoặc bịnh lâu ngày, Thận âm hao tổn không nuôi dưỡng được Tâm, Tâm hoả khô nóng, thần chí không yên, gây ra trạng thái Thuỷ tế hoả làm cho mất ngủ.
Sách Kim Quỹ Yếu Lược ghi: "Hư phiền thì mất ngủ".
Sách Cổ Kim Y Thống ghi: "Do Thận Thuỷ suy, chân âm không thăng mà Tâm Hoả khô nóng, làm cho mất ngủ" hoặc "Sau khi bịnh nặng mới khỏi, đàn bà sau khi sinh mà bị mất ngủ đều do khí huyết kém Tâm Tỳ suy".
Sách Chứng Trị Yếu Quyết ghi: "Sau khi bịnh mới khỏi, người tuổi già dương suy mà mất ngủ đều là do khí huyết kém mà Tâm tỳ suy".
Từ Đồng Cao nhận xét: "Bệnh mất ngủ có người do Thận thuỷ suy kém, chân âm không quan hệ được với Tâm, hoả trong Tâm càng mạnh sinh ra mất ngủ".
Do Ăn Uống Không Điều Độ (Thượng Hải), Đờm Nhiệt Ủng Nhiễu (Thành Đô): Thức ăn đình trệ ở trường vị, lâu ngày thành đờm nhiệt, trở ngại bên trong, đờm nhiệt nhiễu loạn ở trên, vì vậy nằm không yên (Bất đắc ngoạ: mất ngủ).
Thiên Nghịch Điệu Luận (Tố Vấn 34) ghi: "Vị (phủ) không điều hoà thì nằm không yên"(Vị bất hoà nhi ngoạ bất an).
Sách Trương Thị Y Thông giải thích rõ hơn: "Mạch Hoạt, Sác hữu lực, không ngủ được là do có tích trệ đờm hoả, Vị mất điều hoà thì ngủ không yên"
Do Tâm Hư Đởm Khiếp (Thành Đô): hay sợ hãi, thần hồn không yên có thể dẫn đến mất ngủ. Có thể gặp 2 loại sau:
– Do thể chất hư yếu, Tâm Đởm hư, hay khiếp sợ, vì vậy ban đêm khó ngủ.
Sách Thẩm Thị Tôn Sinh ghi: "Tâm và Đởm yếu thường dễ bị khiếp sợ trong giấc ngủ thường hay bàng hoàng không yên, hư phiền, gây ra mất ngủ".
– Bị một việc gì khiếp sợ quá mức, tâm tình rối loạn, suốt ngày không yên, làm cho Đởm bị khiếp, Tâm bị hư, gây ra mất ngủ.
Biện Chứng Luận Trị
Trên lâm sàng thường gặp các loại mất ngủ sau:
Tâm Tỳ Đều Hư: mơ nhiều, nhanh tỉnh, hồi hộp, hay quên, ăn không biết ngon, sắc mặt sạm, lưỡi nhạt, mạch Tế Nhược.
BIỆN CHỨNG: Do Tâm Tỳ hư yếu, huyết không dưỡng được Tâm, vì vậy mơ nhiều, nhanh tỉnh, hay quên (là biểu hiện của thần - sách Nội Kinh: Tâm tàng thần), huyết không vinh nhuận lên trên vì vậy sắc da sạm, lưỡi nhạt (theo Nội Kinh: Tâm vinh nhuận ra ở mặt, Tâm khai khiếu ở lưỡi ). Tỳ không vận hoá tốt cho nên ăn không ngon (theo Nội Kinh: Tỳ chủ tiêu hoá). Nguồn sinh hoá thiếu suy, tinh thần mệt mỏi, biểu hiện ở mạch Tế Nhược.
ĐIỀU TRỊ:
Sách Nội Khoa Học Thượng Hải: Dưỡng Tâm Tỳ để sinh khí huyết.
Dùng bài Quy Tỳ Thang (Tế Sinh): Nhân ( Đảng ) sâm 12g, Chích thảo 2g, Táo đỏ 3 trái, Hoàng kỳ 12g, Viễn chí 4g, Mộc hương 2g, Phục thần 12g, Bạch truật 12g, Nhục quế 8g, Toan táo nhân 12g, Đương quy 8g, Gừng sống 3 lát. Sắc uống.
Đảng Sâm, bạch truật, Chích Thảo để kiện tỳ, ích khí thêm Hoàng Kỳ để tăng tác dụng ích khí, Táo Nhân, Viễn Chí, Nhục Quế để dưỡng Tâm an thần, Mộc Hương để Lý khí tỉnh Tỳ.
Sách Nội Khoa Học Thành Đô: bổ ích Tâm Tỳ
Dùng bài Quy Tỳ Thang hoặc bài Dưỡng Tâm Thang: Hoàng kỳ, Nhân sâm, Chích thảo, Phục linh, Phục thần, Đương quy, Xuyên khung, Bá tử nhân, Toan táo nhân, Viễn chí, Ngũ vị tử, Nhục quế, Bán hạ.
Sách Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương dùng bài Bổ Tâm Đơn Gia Giảm: Sinh địa 20g, Toan táo nhân 20g, Phục thần 16, Mạch đông 12g, Thạch hộc 12g, Nhục quế 12g, Đan bì 8g, Bạch thược 12g, Trúc diệp 4g, Viễn chí 6g, Sắc uống.
Mất Ngủ Thể Âm Hư Hoả Vượng: Bứt rứt, khó ngủ, choáng váng, tai ù, chất lưỡi đỏ, miệng khô, lòng bàn tay, bàn chân nóng, có khi bị mộng tinh, hay quên, hồi hộp, lưng đau mỏi, mạch Tế Sác.
BIỆN CHỨNG: Thận thuỷ suy, Tâm hoả bốc lên vì vậy Tâm phiền không ngủ được, hay quên, tim hồi hộp, lưng đau mỏi, miệng khô, thiếu tân dịch, nóng bứt rứt, lưỡi đỏ, mạch tế sác, đều thuộc chứng âm suy, hư hoả bốc lên. Can Thận âm không đủ, tướng hoả vong động gây ra choáng, tai ù, di mộng tinh.
ĐIỀU TRỊ:
Sách Nội Khoa Học Thượng Hải: tư bổ thận âm, thanh Tâm giáng hoả, dùng bài Bổ Tâm Đơn (Thế Y Đắc Hiệu): Đảng sâm 20g, Viễn chí 20g, Mạch môn 40g, Huyền sâm 20g, Cát cánh 20g, Toan táo nhân 40g, Đan sâm 20g, Đương quy 4 0g, Bá tử nhân 40g, Bạch linh 20g, Thiên môn 40g, Sinh địa 160g, Ngũ vị tử 40g.
Sinh địa, Thiên môn, Mạch môn, Huyền sâm để dưỡng âm; Đan sâm, Đương quy dưỡng Tâm huyết; Phục linh, Viễn chí, Toan táo nhân, Bá tử nhân để an thần; Nhân sâm bổ Tâm khí, Ngũ vị tử liễm Tâm âm; Cát cánh để dẫn thuốc đi lên để thông được Tâm khí.
Sách Nội Khoa Học Thành Đô: Tư âm, thanh hoả, giao thông Tâm Thận, dùng bài Hoàng Liên A Giao Thang (Thương Hàn Luận): Hoàng liên 4g, A giao 12g, Hoàng cầm 12g, Bạch thược 12g, Kê tử hoàng (lòng đỏ trứng gà) 2 quả.
Sách Biện Chứng Kỳ Văn dùng bài Thượng Hạ Lưỡng Tế Đơn (Nhân Sâm, Thục Địa, Nhục Quế, Bạch Truật, Sơn Thù, Hoàng Liên ) hoặc bài Dẫn My thang (Bạch Thược, Đương Quy, Ba Kích Thiên, Bá Tử Nhân, Phục Thần, Long Xỉ, Thỏ Ty Tử, Mạch Môn, Toan Táo Nhân).
Sách Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương dùng bài Hoàng Liên A Giao Thang Gia Vị: A giao 8g, Kê tử hoàng 1 trái, Bạch thược 12g, Hoàng liên 3,2g, Mạch môn 12g, Phục thần 16g, Long xỉ 12g.
Sách Trung Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại Toàn dùng bài Bổ Tâm An Thần Cao: Hoàng kỳ 60g, Đảng sâm 30g, Sa sâm 60g, Sinh địa 60g, Đương quy 60g, Xích thược 60g, Bạch thược 60g, Xuyên khung 60g, A giao 30g, Hoàng cầm 20g, Hoàng liên 10g, Nữ trinh tử 30g, Hạn liên thảo 60g, Kim anh tử 60g, Ngũ vị tử 60g, Viễn chí nhục 30g, Mẫu lệ (sống) 80g, Trân châu mẫu 80g, Mạch nha 60g, Kê nội kim 60g, Tang thầm tử 60g, Nước đường 60g, Bồ đào 2500g, Bình quả 400g. Nấu đặc thành cao, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh (10ml).
Hoặc bài Tử Linh Thang: Tử thạch anh 30g, Linh từ thạch 30g, Thỏ ty tử 16g, Câu kỷ tử 16g, Đảng sâm 12g, Phục linh 10g, Mạch nha 30g, Cam thảo 4g, Sơn dược 16g.
Mất Ngủ Do Tâm Đởm Khí Hư: Hồi hộp, ngủ hay mơ, có tiếng động nhẹ là giật mình, tỉnh ngay, sắc lưỡi nhạt, mạch Huyền Tế.
BIỆN CHỨNG: Do Tâm Đởm hư nên thần không yên, hay giật mình và ngủ dễ tỉnh, sắc lưỡi nhạt, mạch Huyền Tế là do khí huyết thiếu.
ĐIỀU TRỊ:
Sách Nội Khoa Học Thượng Hải: Ích khí, trấn linh, an thần định chí, dùng bài An Thần Định Chí Hoàn (Y Học Tâm Ngộ): Phục linh, Viễn chí, Thạch xương bồ, Phục thần, Nhân sâm, Long xỉ.
Nhân sâm để ích khí, Phục thần, Viễn chí để an thần, Xương bồ, Long xỉ để định chí, Phục linh hỗ trợ Táo nhân định tâm an thần.
Hoặc bài Toan Táo Nhân Thang ( Kim Quỹ Yếu Lược): Toan táo nhân 8-16g, Tri mẫu 12g, Xuyên khung 6g, Cam thảo 8g, Phục linh 12g.
Sách Nội Khoa Học Thành Đô: Ích khí, sinh huyết, dưỡng Tâm, an thần dùng bài Nhân Thục Tán (Thẩm Thị Tôn Sinh): Bá tử nhân 4g, Thục địa 4g, Nhân sâm 4g, Ngũ vị tử 4g, Chỉ xác 4g, Sơn thù 4g, Nhục quế 4g, Cam cúc hoa4g, Phục thần 4g, Câu kỷ tử 4g.
Sách Biện Chứng Kỳ Văn dùng bài Can Đởm Lưỡng Ích Thang (Bạch thược, Toan táo nhân, Viễn chí ). Hoặc bài Khiếp Phong Ích Đởm Thang (Sài hồ, Ô mai, Đương quy, Xuyên khung, Trần bì, Trúc nhự, Úc lý nhân, Bạch giới tử, Mạch môn, Sa sâm, Cam thảo).
Mất Ngủ Do Đờm Nhiệt Nội Nhiễu (Vị Bất đều): đầu nặng, hông bụng đầy buồn, tâm phiền, miệng đắng, mắt hoa, lưỡi vàng, mạch Hoạt - Sác.
BIỆN CHỨNG: Do đờm nhiệt nhiễu động, làm cho buồn bực, mất ngủ, thanh dương bị che lấp gây ra đầu nặng, hông ngực buồn tức, mạch Hoạt Sác, lưỡi vàng là đờm nhiệt nội trở.
ĐIỀU TRỊ:
Sách Nội Khoa Học Thượng Hải: Tiêu đạo, hoà Vị, hoá đờm, thanh nhiệt hoặc hoá đờm, thanh nhiệt, dùng bài Ôn Đởm Thang Gia Giảm ( Thiên Kim): Bán hạ (chế) 8-12g, Cam thảo 4g, Trúc nhự 8g, Trần bì 8g, Chỉ thực 8g, Táo 5 quả, Phục linh 12g.
Chỉ thực hợp với Bán hạ hoá đờm giáng nghịch, Trúc nhự hợp với Trần bì hoà Vị lý khí, Đại táo, Phục linh hợp với Cam thảo có tác dụng hoà trung an thần, Chỉ Thực, Trúc Nhự tính mát, phối hợp với Trần Bì, Bán Hạ tính ôn vì vậy thanh nhiệt mà không hàn, hoá đờm mà không táo.
Sách Nội Khoa Học Thành Đô: Táo thấp hoá đờm, hoà Vị an thần dùng bài Nhị Trần Thang (Cục Phương): Bán hạ 8g, Trần bì 8g, Phục linh 12g, Cam thảo 4g, Thêm Toan táo nhân.
Sách TBTYKN Phương dùng bài Dưỡng Tâm Hoà Vị Pháp: Đan sâm 12g, Huyền sâm 16g, Phục thần 16g, Toan táo nhân 16g, Long xỉ 12g, Quy bản (nướng) 16g, Thạch quyết minh 16g, Bán hạ (chế) 12g, Trần bì 6g, Xương bồ 3,2g, Uất kim 6g, Trúc nhự 8g.
Sách TQĐĐDYNPĐ Toàn dùng bài An Thần Tiễn: Trần bì (sao) 6g, Bán hạ (chế) 10g, Đởm tinh 6g, Thạch xương bồ 6g, Uất kim 10g, Phục thần 16g, Liên tử tâm 6g, Long xỉ 20g, Toan táo nhân 16g, Chích thảo 6g, Mạch nha 30g, Đại táo 10 trái.
Hoặc bài Đan Sâm Táo Nhân Thang: Đan sâm, Long cốt (sống), Mẫu lệ (sống), Dạ giao đằng, Hợp hoan bì đều 16g, Toan táo nhân, Bá tử nhân đều 10g.
Châm Cứu Trị Mất Ngủ
Tâm Tỳ Lưỡng Hư: bổ ích khí huyết. Châm Tỳ du, Tâm du, Thần môn, Tam âm giao.
Tỳ du, Tam âm giao kiện Tỳ, ích khí, dưỡng huyết; Tâm du, Thần môn trấn Tâm, an thần (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Âm Hư Hoả Vượng: tư âm, giáng hoả. Châm Đại lăng, Thái khê, Thần môn, Thái xung.
Đại lăng giáng Tâm hoả; Thái khê tư Thận âm; Thái xung bình Can, tiềm dương; Thần môn trấn Tâm, an thần.
Chóng mặt thêm phong trì. Tai ù thêm Thính cung. Di tinh thêm Chí thất.
Vị Phủ Bất Hoà: Hoá đờm, hoà Vị. Châm Trung quản, Phong long, Lệ đoài, Ẩn bạch.
Vị bất hoà gây nên mất ngủ, trong phương dùng Mộ huyệt của kinh Vị là Trung quản hợp với Phong long là Lạc huyệt để hoà Vị, hoá đờm; Lệ đoài là huyệt Căn của kinh Dương minh Vị, Ẩn bạch là huyệt Căn của kinh Thái âm Tỳ, hai huyệt dùng chung có tác dụng trị mất ngủ, hay mơ.
Can Hoả Thượng Cang: Bình Can, giáng hoả. Châm Hành gian, Túc khiếu âm, Phong trì, Thần môn.
Hành gian bình Can, thanh nhiệt; Túc khiếu âm giáng hoả ở Đởm, trừ phiền; Phong trì chủ trị đầu đau, hoa mắt; Thần môn ninh Tâm, an thần.
Tai ù thêm Ế phong, Trung chử; Mắt đỏ thêm Thái dương, Dương khê (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Can Uất Hoá Hoả: Sơ Can, giáng hoả, ninh Tâm, an thần. Châm Can du, Hành gian, Thần môn, Đại lăng, Tam âm giao.
(Can du + Hành gian là cách phối hợp Bối du huyệt với huyệt Vinh, có tác dụng sơ Can, thanh nhiệt, tả hoả; Thần môn ninh Tâm, an thần; Đại lăng là Nguyên huyệt của Tâm bào hỗ trợ Thần môn để ninh Tâm, an thần; Tam âm giao tư âm, giáng Can hoả).
Đờm Nhiệt Nội Kháng: Khư trừ đờm nhiệt, ninh Tâm, an thần.. châm Trung quản, Phong long, Lệ đoài, Ẩn bạch.
Trung quản (mộ huyệt), phối Phong long lạc huyệt để hoà Vị, hoá đờm, giáng khí, khoan trung; Lệ đoài là huyệt Căn của Dương minh, Ẩn bạch là huyệt Căn của Thái âm, hai huyệt có tác dụng tả nhiệt, an miên.
Nhĩ Châm
Chọn huyệt Não, Giao cảm, Tâm, Tỳ, Thần môn, Nội tiết tố. Châm kích thích nhẹ, lưu kim 30 phút. Ngày châm 1 lần, 10 lần là một liệu trình (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).1th
Bệnh Án
Y ÁN MẤT NGỦ
(Trích trong Chinese Herbal Medicine And The Problem Of Agging)
Một phụ nữ 40 tuổi bị mất ngủ, vai đau, tiêu hoá kém. Người bệnh đã dùng thuốc ngủ nhưng không có hiệu quả, rất dễ bị kích động, mệt mỏi và thường muốn ngủ trong ngày, đi tiểu 2-3 lần trong đêm. Bệnh nhân thuộc loại yếu, nuôi dưỡng kém thiếu máu, mạch nhược, táo bón, rêu lưỡi trắng, phập phồng bụng, bụng dưới mềm. Tôi đã kê bài Bổ Trung Ích Khí Thang, để cải thiện tỳ khí nhưng không có tác dụng, sau đó bệnh nhân được dùng Gia Vị Quy Tỳ Thang trong 3 tháng, bệnh nhân trở lại thèm ăn và trầm tính. Một lần nữa bệnh nhân đã ngủ yên tĩnh và chỉ đi tiểu đêm 1 lần.
Một người đàn bà 48 tuổi, vợ của một nha sĩ, lần đầu tiên đến bệnh viện vào ngày 15 tháng 2 năm 1968 than phiền về mất ngủ. Tháng 4 năm 1967 bệnh nhân bị mổ vì xuất huyết đường tiết niệu. Sau khi mổ, có một tiếng ồn nào đó khuấy động giấc ngủ và bệnh nhân đã bị mất ngủ. Bệnh nhân đã đi khám nhiều bệnh viện nhưng không giúp ích được gì, ngay cả xưng tội, điều mà đã lâu cũng không có khả năng để cứu chữa. Bệnh nhân lạnh chân, cảm giác nóng bốc lên ở ngực và phía sau lưng, đôi khi cảm thấy lạnh, không muốn uống nước, đổ mồ hôi trộm, đại tiện ngày 1 lần và thường xuyên đi tiểu, kinh nguyệt đã mất. Bệnh nhân có thể lực trung bình, nuôi dưỡng tốt, sắc mặt không tươi nhuận da khô, mạch nhược, đau ngực, phập phồng rốn, nặng dưới tim, ứ trệ máu ở bụng dưới và đầy bụng. Bệnh nhân không có con. Mặc dù cho dùng bài Tiêu Dao Tán nhưng vẫn không có khả năng ngủ được và cảm thấy như muốn chết. Mất ngủ có khả năng tăng lên từ gan lạnh và sợ hãi do đó bệnh nhân đã dùng gia vị Ôn Đởm Thang trong 10 ngày. Khi trở lại ngày 14 tháng 3, tình trạng vẫn không được cải thiện. Vào lúc đó bụng căng ứ trệ và nặng vùng dưới tim xuất hiện. Bệnh nhân bắt đầu dùng Hoàng Liên Giải Độc Thang thêm Táo nhân để cải thiện nuôi dưỡng hệ thần kinh. Sau 60 ngày mất ngủ đã chữa khỏi, sắc mặt nhuận trở lại.
Y ÁN MẤT NGỦ DO THẦN KINH CĂNG THẲNG
(Trích trong Hán Phương Trị Nghiệm Lâm Sàng)
Bệnh nhân tên Định, 66 tuổi, nữ sơ chẩn tháng Hai năm 1978.
Bệnh nhân kể: Vùng bụng căng cứng, lo sợ, mất ngủ.
Thể cách doanh dưỡng, sắc mặt đều bình thường, ăn uống, đại tiện không có gì khác. Có khuynh hướng Can khí thượng cương giống như hệ thần kinh quá mẫn. Mạch Huyền, HA lúc cao có thể tới 170/90 mmHg.
Phúc chẩn (khám bụng) : Bên trái rốn sờ thấy mạch đập rõ, bụng cứng.
Dựa theo chứng ở bụng tôi cho rằng : Cần dùng Ức Can Tán thêm Trần bì, Bán hạ.
Sau khi uống thuốc bệnh tình giảm nhẹ, dần dần có thể ngủ say, vùng bụng dần dần trở lại mềm. Ức Can Tán thường dùng trị mất ngủ.
Mục đích dùng cho bệnh nhân là: Từ tâm hạ bộ (nhâm mạch) loan cấp và động quí. Sau khi dùng phương này, bụng cứng, cảm thấy căng thẳng, động quí, chứng tự giác tất cả đều tiêu. Toàn bụng mềm ra, thịt tăng nhiều. Đó đều là bản phương hợp với tá chứng vậy.
Y ÁN MẤT NGỦ DO THẦN KINH
( Trích trong Hán Phương Trị Nghiệm Lâm Sàng)
Bệnh nhân tên Cửu 26 tuổi, nữ sơ chẩn tháng Một năm 1979.
Bảy năm về trước mắc chứng thần kinh, đã vào chẩn trị ở Khoa Thần kinh cho tới nay. Bốn năm về trước kết hôn, sau đó mang thai nhưng đến tháng thứ ba bị sẩy.
Sau đó bệnh tình càng nặng, mất ngủ nghiêm trọng, tuy đã dùng thuốc ngủ, nhưng ngủ không say. Ngoài ra còn đau đầu, chóng mặt, ù tai, dễ bốc hoả, thị lực mờ, suốt ngày rầu rĩ không vui, muôn phần khổ não.
Thể cách doanh dưỡng bình thường. HA thường xấp xỉ 100/50 mmHg.
Sau kỳ sơ chẩn tôi cho dùng Gia Vị Tiêu Dao Tán thêm Viễn chí, Toan táo nhân.
Sau đó lại đổi dùng Ôn Đởm Thang thêm Hoàng liên, Toan táo nhân cho đến Gia Vị Quy Tỳ Thang v.v... Nhưng hầu như không kiến hiệu mấy.
Phúc chẩn (khám lại), bệnh nhân nói: "Đối với phần lớn các việc nhỏ tôi đều không bận tâm. Tôi cứ nghĩ lung tung, không cách gì an tâm được".
Đó là biểu hiện Tâm khí bất túc. Nhưng bệnh nhân đã dùng qua các phương tuy có chữa được mất ngủ, nhưng không phải sở trường; Vì Gia Vị Tiêu Dao chữa mất ngủ do Can khí thượng cương, Ôn Đởm Thang chủ yếu trị đờm ẩm và Đởm bị hàn dẫn đến mất ngủ. Qui Tỳ Thang chữa tâm và tỳ hư dẫn đến mất ngủ rất hiệu quả.
Nhưng 3 trường hợp ấy giám biệt không dễ gì đề xuất được.
Bổ chỗ bất túc của tâm khí trong sử phương chữa mất ngủ có Dưỡng Tâm Thang là sử phương trong Bất Miên môn (Khoa chữa mất ngủ), sách Thọ Thế Bảo Nguyên, chủ yếu là bổ tâm khí và trừ phiền nhiệt ở ngực.
THÀNH PHẦN: Nhân Sâm, Mạch đông, Phục linh, Toan táo nhân sao, Bá tử nhân đều 9g, Đương qui, Thược dược, Viễn chí, Trần bì, Liên nhục đều 6g, Hoàng liên, Cam thảo đều 3g.
Toan táo nhân trong 3 phương trước đều không chế biến, nhưng Toan táo nhân ở Dưỡng Tâm Thang phải sao đen. Sau khi dùng phương này, bệnh nhân nói: "Tôi hơi thấy ngủ ngon".
Nhân đó tính tình chuyển tốt, nên bệnh nhân tiếp tục uống, dần dần bỏ không dùng thuốc an thần mà vẫn ngủ được, phiền táo và sầu tư dần dần giảm bớt, đối với một số vấn đề, bệnh nhân đã bắt đầu biết quan tâm nghĩ đến.
Hiện nay, bà vẫn tiếp tục dùng thuốc. Bệnh tình ngày càng có khuynh hướng chuyển biến tốt Sách Phương Vựng Khẩu Quyết của Thiển Tỉnh Trình Yêm và sách Hồi Xuân nói về Toan táo nhân thang (Nhân sâm, Phục linh, Toan táo nhân) có nói: Phương này chữa được ngủ nhiều và mất ngủ. (Trị đa thuỵ cập thất miên).
Nếu bệnh nhân thích ngủ quá, phòng ngủ nhiều thì dùng Toan táo nhân sống. Khi mất ngủ mà muốn ngủ được thì sao đen Táo nhân rồi cho dùng.
Toan Táo Nhân Thang trong sách Kim Quĩ tuy không nói rõ sao lên mới dùng, nhưng khi sắc phương thang này, trước hãy đem riêng vị Táo nhân bào trong 8 thăng nước sắc cho cạn đi còn 6 thăng, sau đó mới cho các vị thuốc khác vào đun tiếp. Cách làm này cũng tương tự như dùng Táo nhân sao kỹ vậy.
Trong sách Dược Tính Năng Độc, ông Khúc Trực Lại Huyền Sóc đã nói rõ: "Sinh Toan táo nhân (sống) chữa chứng đởm thực đa miên, sao Toan táo nhân chữa chứng đởm hư bất miên".
Trong sách Y Liệu Chứng Phương Qui Cư viết: "Phàm nói đến Toan táo nhân là nói đến sao, cho nên trị chứng mất ngủ, Toan táo nhân đã sao có hiệu quả tự ứng. Nếu dùng sinh Toan táo nhân thì nên theo sách Kim Quĩ đã chỉ rõ, trước hãy chưng vị ấy đã, sau mới cho tiếp các vị khác như thế mới là hợp pháp vậy".
Y ÁN MẤT NGỦ LÂU NGÀY
( Trích trong Hán Phương Trị Nghiệm Lâm Sàng)
Bệnh nhân tên Đạo 78 tuổi, nam, sơ chẩn ngày 9-5-1983.
Cụ này mất ngủ, đã dùng thuốc an thần dài ngày lẫn thuốc ngủ. Vì rối loạn tiêu hoá, và sợ tác dụng phụ của thuốc Tây, nên cụ muốn đổi dùng thuốc Hán y. Bệnh nhân trong thời thanh niên đã bị viêm màng phổi. Chức năng phổi phải cơ bản đã mất. Vì bị chứng tâm phế mạn tính (CPC) nên cụ nhiều lần phải nằm Viện.
Ngoài mất ngủ ra, cụ còn đau đầu, sưng vai, mỏi mắt.
Mạch Phù Sác HA=138/88 mmHg.
Phúc chẩn: có hung hiếp khổ mãn bên phải. Đởm kinh mé phải căng thẳng và ấn đau. Lưỡi không có rêu.
Tôi cho dùng Ôn Đởm Thang thêm Hoàng liên 0,3, Toan táo nhân 4, Sài hồ 5.
Sau khi uống thuốc cụ dần dần ngủ được nói chung các chứng đều chuyển biến tốt. HA xuống 130/80 mmHg thích ăn, đại tiện lành.
Trong một năm thể trạng tăng 3kg đạt tới 60kg.
Tháng Mười một năm 1984. Nhân một số ngày suy nghĩ quá sức, ăn uống không ngon, bụng chướng, tích khí, lưỡi có rêu trắng dày và khô, miệng đắng, bụng có nước (phúc thuỷ) nghỉ đến ngày vào viện điều trị, đã từng được dùng Tiểu Sài Hồ Thang hợp Phân Tiêu Thang thêm Toan táo nhân 4, Hoàng liên 0,5.
Sau đó các chứng chuyển biến tốt. Đối chứng mất ngủ ngày, nên dựa vào chứng hung trung uất nhiệt, tôi cho dùng Trúc Nhự Ôn Đởm Thang thêm Toan táo nhân 5.
Sau khi uống thuốc, giấc ngủ tốt nên sau 3 thang được ra viện.
Tháng Tư năm 1986, cụ mắc chứng da ngứa do tuổi già, da dẻ thô ráp, khô, ngứa. Cụ lại mất ngủ. Tôi cho dùng Đương Qui Ẩm Tử.
Sau một tháng thì chuyển biến tốt, ngứa cũng tiêu. Da trở lại như cũ.
Về sau, cụ dùng tiếp Trúc Nhự Ôn Đởm Thang cảm thấy mười phần thư thái. Đến khoa Nội kiểm tra công năng hô hấp cũng chuyển biến tốt. Hiện tại cụ có khả năng công tác nửa ngày. Đời sống 10 phần khoái lạc và thư thái.
Trúc Nhự Ôn Đởm Thang (Vạn Bệnh Hồi Xuân): Sài hồ 15g, Trúc nhự, Cát cánh, Trần bì, Phục linh, Sinh khương đều 9g, Mạch môn 12g, Bán hạ 15g, Chỉ thực, Hương phụ, Hoàng liên, Nhân sâm đều 6g, Cam thảo