Liệt Dương Bệnh Học
Liệt Dương (Đối Chiếu Bệnh Danh: Impotence - Impuissance). Liệt dương là bệnh của nam giới biểu hiện dương vật không cương hoặc cương yếu. Trong Y văn cổ có sách ghi Dương nuy, Âm nuy, Dương Vật Bất Cử.
Đại Cương
Liệt dương là bệnh của nam giới biểu hiện dương vật không cương hoặc cương yếu. Trong Y văn cổ có sách ghi Dương nuy, Âm nuy, Dương Vật Bất Cử.
Theo y học hiện đại, Liệt dương có thể phân làm hai loại: Nguyên phát và thứ phát. Nguyên phát là từ khi lớn lên chưa hề có dương vật cương và phóng tinh do suy sinh dục từ tuổi dậy thì. Liệt dương thể thứ phát có thể phân làm loại do tổn thương thực thể và loại do rối loạn chức năng.
Loại do tổn thương thực thể thường là thứ phát của các bệnh tim, phổi, thận, não, do các bệnh nội tiết như bệnh cường giáp, bệnh của tuyến thùy, tuyến thượng thận, bệnh của tinh hoàn, tiểu đường, do các bệnh viêm nhiễm như viêm tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo, viêm dịch hoàn (do quai bị), viêm chất xốp dương vật, liệt dương, còn có thể do chấn thương ngoại khoa, bệnh cột sống, nhiễm độc thuốc...
Người ta phát hiện bệnh có thể do nhiễm mỡ xơ mạch của phân nhánh hố chậu của động mạch chủ.
Đặc điểm lâm sàng của liệt dương do tổn thương thực thể là bệnh nặng dần, không có hiện tương cương dương vật vào lúc sáng sớm hoặc cương bất kỳ.
Loại do rối loạn chức năng thường do yếu tố tâm thần (mà y học cổ truyền gọi là nguyên nhân "thất tình" như tình cảm lạnh nhạt, buồn phiền, kinh sợ, lo lắng hoặc không tha thiết về tình dục).
Đặc điểm của loại bệnh này là sáng dậy dương vật có cương hoặc cương bất kỳ, lúc cương, lúc không, có thể trị khỏi bằng ám thị, tâm lý liệu pháp, thuốc nam, châm cứu.
Nguyên Nhân
Nguyên nhân gây nên liệt dương có nhiều, cơ sở bệnh lý theo y học cổ truyền có thể qui nạp chủ yếu: Thận hư, thấp nhiệt, khí trệ, huyết ứ.
Thận hư bao gồm khí huyết bất túc, nặng thì mệnh môn hỏa suy.
Thấp nhiệt thường do ăn nhiều chất béo ngọt hoặc nghiện rượu sinh thấp, sinh nhiệt hoặc do bệnh nhiễm.
Khí trệ do tình chí thất thường làm cho can khí bị uất kết. Can tàng huyết, chủ cân mạch, mạch lạc không thông, dương vật thiếu nuôi dưỡng sinh ra chứng liệt dương.
Khí trệ và huyết ứ thường có quan hệ nhân quả, ảnh hưởng lẫn nhau.
Biện Chứng Luận Trị
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Thường luận trị theo các thể bệnh thường gặp sau:
Thận Hư: Mệt mỏi, đau lưng, mỏi gối, sắc mặt sạm đen, hoa mắt, ù tai, hoạt tinh hoặc xuất tinh sớm (tảo tinh, tiết tinh), lưỡi sắc nhợt, mạch Trầm Tế hoặc Trầm Nhược, vô lực.
ĐIỀU TRỊ: Ích thận, cố tinh, bổ khí huyết. Dùng bài Tả Quy Hoàn gia giảm (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Câu kỷ tử 160g, Quy bản giao 160g, Thỏ ty tử 160g, Lộc giác giao 160g, Sơn dược 160g, Thục địa 320g, Ngưu tất 120g, Sơn thù 120g.
(Trong bài, Lộc giác giao bổ can thận, ích tinh huyết, là chủ dược; Quy bản + Thục địa + Câu kỷ tử để bổ âm huyết; Sơn dược + Sơn thù + Ngưu tất để bổ thận cố tinh; Thỏ ty tử bổ dương, ích âm, cố tinh).
Trường hợp chân tay lạnh mạch Trầm, Trì, Nhược, thêm Tắc kè, Tiên linh tỳ (Dâm dương hoắc), Nhục thung dung, Hắc Phụ tử, Quế nhục để trợ dương. Trường hợp khí kém, mệt mỏi nhiều gia Nhân sâm, Hoàng kỳ để bổ khí.
Khí Trệ Huyết Ứ: Tinh thần bứt rứt, ngực sườn đầy tức, tính tình nóng nảy, sắc mặt sạm, môi tím, lưỡi có điểm ứ huyết sắc tím, mạch Huyền hoặc Sáp.
ĐIỀU TRỊ: Hành khí hoạt huyết hóa ứ, dưỡng can thận. Dùng bài Huyết Phủ Trục Ứ Thang Gia Giảm (Y Lâm Cải Thác): Sài hồ, Cam thảo đều 4g, Cát cánh, Xuyên khung đều 6g, Chỉ xác 8g, Đào nhân 16g, Đương quy, Hồng hoa, Ngưu tất, Sinh địa đều 12g.
(Trong bài, Đương quy, Bạch thược, Xích thược, Sinh địa, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết, hóa ứ; Chỉ xác, Hương phụ hành khí; Xuyên Ngưu tất, Kỷ tử, Ba kích thiên, Bổ cốt chi, Tiên linh tỳ bổ can thận).
Thấp Nhiệt: Bụng dưới đau âm ỉ, nước tiểu vàng, hoặc âm nang (bìu đái) lở ngứa, lưỡi đỏ, rêu vàng dày nhớt, mạch Trầm Sác. Thể này ít gặp, phần lớn đến khám có triệu chứng viêm nhiễm.
ĐIỀU TRỊ: Thanh lợi thấp nhiệt, bổ ích can thận. Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết): Đơn bì 120g, Sơn dược 160g, Trạch tả 120g, Hoàng bá 80g, Sơn thù 160g, Tri mẫu 80g, Thục địa 320g, Phục linh 120g.
(Trong bài, Sinh địa + Đơn bì + Tri mẫu + Hoàng bá để thanh nhiệt; Bạch linh, Trạch tả thêm Hoạt thạch + Cam thảo để trừ thấp; Thêm Thỏ ty tử + Ích trí nhân + Tiên linh tỳ + Quy bản để bổ ích can thận).
CHÂM CỨU TRỊ LIỆT DƯƠNG
Châm Cứu Học Thượng Hải: Ôn bổ Mệnh Môn.
Dùng Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Lãi Câu (C.5).
Tâm Tỳ suy: Thêm Thần Môn (Tm.7).
Mệnh Môn hỏa suy: Thêm Mệnh Môn (Đc.4) (có thể cứu 3 – 5 tráng).
Ý nghĩa: Lãi Câu là huyệt Lạc của kinh Túc Quyết Âm, mạch của nó kết ở dương vật; Mệnh Môn thuộc mạch Đốc là chỗ ở của Mệnh Môn (Kỳ Phủ Mệnh Môn Chi Hỏa), hợp với Quan Nguyên để làm tăng nguyên dương; Thần Môn là huyệt Nguyên của kinh Tâm, phối Tam Âm Giao để điều tiết Tâm Tỳ.
Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Khí Hải + Tam Âm Giao (Ty.6) + Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Đại Lăng (Tb.7) (Châm Cứu Đại Thành).
Cứu Mệnh Môn (Đc.4) + Thận Du (Bq.23) + Khí Hải (Nh.6) (Loại Kinh Đồ Dực).
Mệnh Môn (Đc.4) + Thận Du (Bq.23) + Khí Hải (Nh.6) + Nhiên Cốc (Th.2) + Dương Cốc (Ttr.5) [đều cứu] (Thần Cứu Kinh Luân).
Thận Du (Bq.23) + Khí Hải (Nh.6) (Châm Cứu Phùng Nguyên).
Quan Nguyên (Nh.4) + Mệnh Môn (Đc.4) + Thận Du (Bq.23) + Thái Khê (Th.3) + Bá Hội (Đc.20) (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
Thận Du (Bq.23) + Mệnh Môn (Đc.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Quan Nguyên (Nh.4) (Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).
Yêu Dương Quan (Dc.2) + Thứ Liêu (Bq.32) + Trung Liêu (Bq.33) + Quan Nguyên (Nh.4) + Trung Cực (Nh.3) + Khúc Cốt (Nh.2) (Trung Quốc Châm Cứu Học).
Quan Nguyên (Nh.4) + Trung Cực (Nh.3) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Thứ Liêu (Bq.32) (Thường Dụng Trung Y Liệu Pháp Thủ Sách).
Khí Hải + Thận Du (Bq.23) + Đại Trường Du (25) + Tiểu Trường Du (Bq.27) + Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Trung Cực (Nh.3) + Nhiên Cốc (Th.2) + Âm Cốc + Chiếu Hải + Khúc Cốt (Nh.2) + Quy Lai (Vi.29) + Thứ Liêu (Bq.32) + Trung Liêu (Bq.33) + Hạ Liêu (Bq.34). Luân phiên chọn huyệt châm.
Tâm Tỳ Hao Tổn: Tâm Du (Bq.15) + Tỳ Du (Bq.20) + Thần Môn (Tm.7) + Khí Xung (Vi.30) + Tam Âm Giao (Ty.6) [đều bổ].
Kinh Hãi và Phẫn Nộ: Can Du (Bq.18) + Đởm Du (Bq.19) + Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Khí Hải (đều bổ) + Thái Xung (C.3) + Cấp Mạch (C.12) [đều tảu].
Phòng Lao Quá Độ: Thận Du (Bq.23) + Mệnh Môn (Đc.4) + Quan Nguyên (Nh.4) + Hạ Liêu (Bq.34) + (đều cứu). (Lâm Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học).
Thận Du (Bq.23) + Mệnh Môn (Đc.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Quan Nguyên (Nh.4) (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).
Mệnh Môn (Đc.4) + Yêu Dương Quan (Đc.2) + Trung Cực (Nh.3) + Quan Nguyên (Nh.4) + Khúc Cốt (Nh.2) + Thận Du (Bq.23) + Hội Dương (Bq.35) + Chí Thất (Bq.52) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Hoành Cốt (Th.11) + Di Tinh (Châm Cứu Học Hong Kong).
Quan Nguyên (Nh.4) + Thận Du (Bq.23) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Mệnh Môn (Đc.4) + Chí Thất (Bq.52) (Châm Cứu Học Việt Nam).
Thận Âm Hư: Bổ Thận, ích tinh, Thận Du (Bq.23) + Thái Khê (Th.3) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Chí Thất (Bq.52).
Thận Dương Hư: Ôn bổ Thận Dương, Thận Du (Bq.23) + Mệnh Môn (Đc.4) + Quan Nguyên (Nh.4) + Yêu Dương Quan (Đc.2).
Tỳ Thận Hư Tổn: Tư bổ Tỳ Thận, Thận Du (Bq.23) + Tỳ Du (Bq.20) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Khí Hải (Nh.6) + Thái Khê (Th.3).
Thấp Nhiệt: Thanh nhiệt, lợi thấp, Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Phục Lưu (Th.7) + Hành Gian (C.2) + Tam Âm Giao (Ty.6) (Thực Dụng Châm Cứu Đại Toàn).
Trung Cực (Nh.3) + Quan Nguyên (Nh.4) + Khí Hải (Nh.6).
Thận Dương Hư: Thêm Mệnh Môn (Đc.4).
Tâm Tỳ Lưỡng Hư: Thêm Túc Tam Lý (Vi.36) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Chí Thất (Bq.52).
Can Thận Âm Hư: Thêm Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Tam Âm Giao (Ty.6). (Triết Giang Trung Y Tạp Chí số 162/1987).
Bệnh Án
BỆNH ÁN LIỆT DƯƠNG
(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)
Vương XX, nam, 38 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 8-11-1962. Từ năm 1961, bệnh nhân đã bắt đầu phát hiện khi giao hợp dương vật không cương lên được, có lúc bị hoạt tinh, sau khi đi tiểu có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, tim hồi hộp, khí đoản, mất ngủ, hay quên, sắc mặt xanh sạm, thể trạng béo bệu, môi lưỡi nhạt, không có rêu, tinh thần mỏi mệt, khổ não, không thể ở trong buồng lạnh, tiếng nói nhỏ yếu, mạch Huyền Tế vô lực, mạch xích Trầm, Trì.
Chứng này thuộc về âm dương lưỡng khuy, liệt dương. Cần trị bằng phép tư âm, tráng dương, ích thận. Cho dùng Gia Vị Ích Tinh Tráng Dương Hoàn (Thục địa 15g, Sơn thù nhục 15g, Sơn dược 15g, Phục linh 12g, Câu kỷ 15g, Nhục thung dung 12g, Tỏa dương 12g, Dâm dương hoắc diệp 30g, Ba kích nhục 12, Bạch nhân sâm 12, Sao táo nhân 12g, Thỏ ti tử 12g, Thiên môn đông 9g, Lộc nhung 6g, Cam thảo 9g. Tất cả đem tán mịn trộn mật làm hoàn, mỗi viên nặng 9g, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên, uống với nước đun sôi để nguội. Kiêng ăn thức ăn tanh, lạnh).
Sau khi uống thuốc 1 đợt, mạch chuyển Hoãn Hoạt, mạch xích vẫn chậm, tự cảm thấy các triệu chứng đã giảm được tới hai phần ba, có nghĩa là âm dương của thận đã dần dần được hồi phục, lại tiếp tục dùng bài thuốc cũ, thêm hai đợt nữa, bệnh khỏi hoàn toàn.
BÀN LUẬN: Sách Loại Chứng Trị Tài viết: "Thương tổn vào trong tất (dương vật) không cương lên được, liệt dương, phần nhiều do sắc dục làm kiệt hết tinh khí, quá suy nhược, hoặc do lo nghĩ làm cho thần bị tổn thương, hoặc do sợ hãi mà tổn tới thận..., cũng có người thấp nhiệt hạ trú, gân lớn mềm nhão mà sinh chứng liệt dương". Căn cứ các triệu chứng thấy trường hợp này có thể do sắc dục quá độ, kiệt tinh thương âm, âm tổn đến dương, âm dương đều khuy mà sinh liệt dương. Mạch Huyền Tế, mạch xích Trầm, Trì là thuộc mạch dương suy, Liệt dương, hoạt tinh. Sau khi đi tiểu có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, không dám ở trong buồng lạnh, là dương hư âm khuy, tinh quan bất cố. Tim hồi hộp hay quên, mất ngủ là âm tinh của thận không đủ, dẫn tới tâm thận bất giao.
ĐIỀU TRỊ: Tư âm, tráng dương, ích thận. Đơn thuốc này dùng Thục địa, Thù nhục, Sơn dược, Phục linh để tư âm, bổ Thận. Nhục thung dung là vị cam, toan và ôn (ẩm), vào thận để bổ hỏa của mệnh môn, trấn tinh ích tủy, Tỏa dương là vị cam, ôn bổ Thận, ích tinh, hưng dương: Ba kích nhục vị cam tân, hơi ôn, vào thận, làm cường âm ích tinh: Dâm dương hoắc là vị tân hương cam ôn vào Can, Thận, có tác dụng bổ mệnh môn, ích tinh khí: Thỏ ti tử là vị cam ôn bình hòa, cường âm ích tinh; Câu kỷ là vị cam bình, thanh can, tư thận, ích khí, sinh tinh, trợ dương, Lộc nhung là vị cam ôn, thuần dương, sinh tinh bổ tủy, dưỡng huyết trợ dương, làm cho dương của Thận phục hồi, âm của Thận sẽ đầy, sinh tinh mà khỏi bệnh. Đó thực là như thiên Sinh Khí Thông Thiên Luận (Tố Vấn 3) đã viết: "Âm bình dương bí, tinh thần nải trị".
BỆNH ÁN LIỆT DƯƠNG
(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)
Triết XX, nam, 25 tuổi, xã viên. Tới khám ngày 29-4-1979. Vào tháng 2, bệnh nhân bị cảm lạnh, qua điều trị thấy khỏi dần. Vài hôm sau cảm thấy đôi lúc bụng dưới và bìu dái co giật, nhưng vì bản thân bệnh nhân không để ý, nên chẳng điều trị gì cả. Sau khi kết hôn, động phòng với vợ, không lâu đã xuất hiện triệu chứng tình dục giảm sút, dương vật không cương lên được, hoặc có cương lên nhưng không cứng. Đã qua các phương pháp điều trị bằng thuốc đông tây y mà chưa có kết quả. Gần đây lại xuất hiện di tinh, hoạt tinh, kèm theo đau lưng, mỏi gối, rã rời vô lực, có lúc lạnh cả người, trí nhớ giảm rõ rệt, đầu căng, váng vất, tiểu vặt, kém ăn, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch Hư Nhược.
Cho dùng 1 liều Bổ Tử Hoàn (Phá cố chỉ 240g (sao với nước muối), Vân linh 120g, Cửu tử 60g. Đem các vị trên ngâm trong dấm cũ, mức dấm cao hơn thuốc 1 khoát ngón tay, đem ninh cạn thành bột, làm hoàn to bằng hạt thầu dầu, mỗi lần uống 20 hoàn, mỗi ngày 2 lần vào sáng sớm và tối).
Ngày 15-6 khám lại, sau khi bệnh nhân dùng hết 1 liều thuốc, hoạt động cương nhu của dương vật đã được phục hồi cơ bản, tinh không tự xuất, tinh thần chuyển biến tốt, cho uống thêm 1 liều, tất cả các triệu chứng đều lui, theo dõi về sau không thấy tái phát.
BÀN LUẬN: Bệnh này là do cảm hàn đi thẳng vào quyết âm, hàn khách Can mạch, hàn chủ thu dẫn, ngưng trệ mà có lúc sinh ra cảm giác bụng dưới và bộ phận sinh dục co giật. Lại thêm sau khi cưới tình dục không điều độ, tổn thương đến thận dương, tinh quan bất cố, dẫn đến liệt dương. Trong bài thuốc có Bổ cốt chỉ vị cay, đắng, đại ôn bổ Thận trợ dương, ích Thận cố thoát: Cửu tử cam ôn, cố tinh, ngừng di tinh, lại dùng Phục linh là để kiện Tỳ ích khí hóa tinh huyết mà dưỡng tiên thiên, sắc bằng nước dấm cũ để lấy vị chua sáp làm tăng thêm tác dụng giữ gìn tinh khí.
BỆNH ÁN LIỆT DƯƠNG
(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)
Vương XX, nam, 25 tuổi, xã viên, sau khi lấy vợ vì dương vật không cương cứng lên được nên không thỏa mãn nhu cầu của vợ, vợ chồng bất hòa, người bệnh vô cùng đau khổ, đã từng tìm nhiều thầy để chữa, tuy uống đã nhiều thứ bổ thận tráng dương nhưng chưa thấy tác dụng rõ rệt.
Chúng tôi cho dùng Hải Hà Tán (Sinh hải hà (tôm biển sống) 500g, Hạch đào nhân 80 cái, Dâm dương hoắc 200g, Rượu trắng 250ml. Trước tiên đổ rượu vào bình đựng đủ rộng, châm lửa đốt, khi rượu đã nóng thì cho Tôm biển vào, Rượu ngập hết, ngấm kỹ trong tôm. Lấy tôm rượu ra sấy cho khô. Đem Hạch đào nhân bỏ vỏ, ngâm nước muối, sấy khô cùng tán với Hải hà thành bột mịn, chia thành 20 gói, mỗi ngày dùng 1 gói chia làm 2 lần, mỗi lần lấy 10g, Dâm dương hoắc, sắc với 100ml nước uống cùng với Hải hà tán. Một đợt điều trị là 2 tháng. Trong thời gian uống thuốc phải kiêng phòng sự).
Uống được 2 tuần lễ, dương vật đã cứng lên được, dùng liền hơn một tháng bệnh khỏi. Sau lại dặn uống thêm Lục Vị Địa Hoàng, lấy âm để tích dương, củng cố căn nguyên. Hơn một năm hỏi lại, mừng vợ đã sinh 1 con.
BÀN LUẬN: Trong bài có tôm biển vị cam hàn, sắc trong, lúc chín thì biến ra đỏ, là một thuốc quan trọng tư bổ các kinh Can Thận Tâm; Hạch đào nhân chuyên lợi tam tiêu, bổ mệnh môn; Dâm dương hoắc bổ âm trợ dương; ba thứ bổ cả âm dương, giúp ích lẫn nhau nên hiệu quả nhanh.