🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Kinh Nguyệt Ít Bệnh Học

Kinh Nguyệt Ít. Là trạng thái lượng kinh ra ít hơn mức bình thường hoặc khi hành kinh thời gian ngắn hơn (dưới 3 ngày) nhưng chu kỳ kinh nguyệt vẫn bình thường.

Đại Cương

Là trạng thái lượng kinh ra ít hơn mức bình thường hoặc khi hành kinh thời gian ngắn hơn (dưới 3 ngày) nhưng chu kỳ kinh nguyệt vẫn bình thường.

Còn gọi là Thiểu Kinh, Nguyệt Kinh Thất Thiểu, Nguyệt Kinh Quá Thiểu, Kinh Thủy Sáp Thiểu, Kinh Lượng Quá Thiểu.

Nguyên Nhân

Thường do phần vinh, âm suy yếu, huyết hải hư, trống hoặc mạch Nhâm, Xung bị trở ngại, huyết hành không thông.

Trên lâm sàng thường gặp ba loại nguyên nhân chính là Huyết hư, Huyết ứ và Đàm trở.

Nếu do huyết hư gây nên kinh nguyệt ít thì thường bụng dưới có cảm giác trướng đau.

Nơi phụ nữ béo mập mà kinh nguyệt ít, thường do đàm thấp ngăn trở nên kinh nguyệt ra ít.

Biện Chứng Luận Trị

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc: Nên dùng phép dưỡng huyết, hòa huyết là chính để giúp điều khí. Nên thận trọng đối với các thuốc có vị cay, táo, có công năng công phá khí. Huyết hư thì bổ huyết, huyết ứ thì trục huyết, đàm ngăn trở thì hóa đàm, hòa huyết...

TRIỆU CHỨNG

Trên lâm sàng thường gặp ba loại sau:

Huyết Hư: Kinh trễ, lượng ít, sắc nhạt, chóng mặt, hồi hộp, sắc mặt xanh nhạt, hơi vàng, ít ngủ, lưỡi nhạt, mạch Hư Tế.

ĐIỀU TRỊ: Tư âm, dưỡng huyết, điều kinh, Dùng bài Tứ Vật Thang thêm Quỳ hoa (Nữ Khoa Chuẩn Thằng) hoặc Nhân Sâm Tư Huyết Thang (Sản Bảo Bách Vấn) (Trung Y Cương Mục).

Bổ huyết, ích khí, điều kinh. Dùng bài Tư Huyết Thang (Chứng Trị Chuẩn Thằng — Nữ Khoa): Nhân sâm, Sơn dược, Hoàng kỳ, Bạch phục linh, Xuyên khung, Đương quy, Bạch thược, Thục địa.

(Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung bổ huyết, điều kinh; Nhân sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược, Phục linh bổ khí, kiện Tỳ, là nguồn sinh hóa khí huyết) (Trung Y Nữ Khoa Học).

CHÂM CỨU:

Châm bổ + cứu: Quan nguyên, Trung cực, Cách du, Huyết hải, Tâm du, Thận du, Túc tam lý (Châm Cứu Học Thượng Hải).

Dưỡng huyết, ích âm, điều bổ mạch Xung, Nhâm. Châm bổ hoặc cứu Tam du, Tỳ, Túc tam lý, Tam âm giao (Tâm Tỳ khí hư không sinh được huyết, dùng Tâm du, Tỳ du để bổ ích Tâm Tỳ, phối hợp với Túc tam lý để kiện Tỳ, ích khí; Tam âm giao tư bổ âm huyết. Khí mạnh lên thì huyết sẽ mạnh theo, kinh huyết sẽ đầy đủ (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

Huyết Ứ: Khi hành kinh và lúc bắt đầu có kinh, bụng dưới đầy đau, ấn vào đau hơn, mầu máu tím đen, có hòn cục, kinh ra thì bớt đau, lưỡi tím sậm, mạch Tế, Sắc.

ĐIỀU TRỊ: Hoạt huyết, khứ ứ, điều kinh. Dùng bài Ngưu Tất Tán (Tế Âm Cương Mục) hoặc Quá Kỳ Ẩm (Nữ Khoa Chuẩn Thằng).

Hoạt huyết, hóa ứ, lý khí, điều kinh. Dùng bài Thông Ứ Tiễn (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Đương quy vĩ, Sơn tra, Hương phụ, Hồng hoa, Ô dược, Thanh bì, Mộc hương, Trạch tả (Quy vĩ, Sơn tra, Hồng hoa hoạt huyết, hóa ứ; Hương phụ lý khí, giải uất, điều kinh; Ô dược, Thanh bì, Mộc hương hành khí, chỉ thống; Trạch tả lợi thủy hành trệ) (Trung Y Nữ Khoa Học).

CHÂM CỨU: Hoạt huyết, hóa ứ, điều kinh. Châm tả Hợp cốc, Tam âm giao, Huyết hải, Thái xung (Hợp cốc phối với Tam âm giao có tác dụng hoạt huyết, hóa ứ; Thái xung để sơ Can, điều khí, khí hành thì huyết hành, kinh huyết có thể điều hòa được; Huyết hải là huyệt chủ yếu để hòa huyết, điều kinh.

Bụng dưới đau nhiều, thêm cứu Quan nguyên, Trung cực (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

Đàm Trở: Trong ngực bứt rứt, bụng trên đầy trướng, ăn ít, đàm nhiều, muốn nôn, nấc cụt, có nhiều bạch đái, miệng nhạt, có nhớt, rêu lưỡi trắng nhờn, kinh nguyệt không đúng kỳ, kinh nhạt mà nhiều rồi tắt dần, mạch Huyền Hoạt.

ĐIỀU TRỊ: Hóa đàm, lợi thấp, thông kinh. Dùng bài Thương Sa Đạo Đàm Hoàn hoặc Khung Quy Nhị Trần Thang.

Táo thấp, hóa đờm, hoạt huyết, thông kinh. Dùng bài Đạo Đờm Thang gia vị: Phục linh, Trần bì, Bán hạ (chế), Cam thảo, Nam tinh, Chỉ xác, Đương quy, Xuyên khung, Kê huyết đằng, Ngưu tất.

(Bán hạ, Nam tinh vị cay, tính ôn, có tác dụng táo thấp, hóa đờm. Bán hạ còn có tác dụng giáng nghịch, hòa Vị, chỉ ẩu, làm chủ dược. Thần có Trần bì để lý khí, táo thấp; Chỉ xác khoan trung, hành khí làm cho khí thuận, đờm tiêu; Tá có Phục linh kiện Tỳ, thấm thấp, khiến cho Tỳ thấp không tụ lại được, đờm không thể sinh ra được; Sứ có Cam thảo để điều hòa các vị thuốc. Thêm Đương quy, Xuyên khung, Kê huyết đằng, Ngưu tất để giúp hoạt huyết, thông kinh).

CHÂM CỨU: Trung cực, Bạch hoàn du, Túc tam lý, Âm lăng tuyền (Trung cực là huyệt chủ yếu của mạch Nhâm có thể điều hòa mạch Nhâm, Xung, hòa huyết, điều kinh; Bạch hoàn du để điều kinh, hóa ứ, thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu; Túc tam lý là huyệt hợp của kinh Vị, Âm lăng tuyền là huyệt hợp của kinh Tỳ, phối hợp hai huyệt này có tác dụng bồi bổ trung thổ, lợi thấp, hóa trọc, điều kinh, chỉ đái) (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

Thận Hư: Kinh nguyệt ít, sắc hồng nhạt hoặc hồng xám, lưng đau, mỏi gối, đầu váng, tai ù, gót chân đau, bụng dưới lạnh, tiểu đêm, tiểu nhiều, lưỡi nhạt, mạch Trầm Nhược.

ĐIỀU TRỊ: Bổ Thận, ích tinh, dưỡng huyết, điều kinh. Dùng bài Đương Quy Địa Hoàng Ẩm (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Đương quy, Thục địa, Sơn thù, Đỗ trọng, Sơn dược, Ngưu tất, Cam thảo, thêm Tử hà xa, Đan sâm.

(Thục địa, Sơn thù, Đương quy, Tử hà xa bổ Thận, ích tinh, dưỡng huyết; Đương quy, Đan sâm dưỡng huyết hoạt huyết, điều kinh; Đỗ trọng, Ngưu tất bổ Thận, làm mạnh lưng gối; Sơn dược bổ Tỳ, nguồn của sự sinh hóa; Cam thảo điều hòa các vị thuốc).

CHÂM CỨU: Bổ Thận, dưỡng huyết, điều kinh. Châm bổ Khí hải, Trung cực, Mệnh môn, Thận du, Tam âm giao, Huyết hải (Khí hải, Trung cực để điều hòa mạch Xung, Nhâm, thông kinh huyết; Mệnh môn, Thận du để chấn tinh, bổ thận; hợp với Tam âm giao, Huyết hải để bổ ích âm tinh, điều kinh, dưỡng huyết (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

NHĨ CHÂM: Chọn huyệt Tử cung, Nội tiết, Buồng trứng, Can, Thận. Kích thích vừa, lưu kim 15 – 20 phút. Cách ngày châm một lần (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

Tham Khảo

Dùng Nhĩ áp trị 90 ca kinh nguyệt ra nhiều: Huyệt chính Thận, Tử cung, Phụ phân, Bồn không, Nội tiết tố, Thượng thận tuyến, Bì chất hạ, Buồng trứng. Phối hợp với huyệt Cách mô, Can, Tỳ, Tâm, Yêu thống điểm. Dùng vị thuốc Vương bất lưu hành, nghiền nát dán vào mỗi huyệt chính một miếng. Các huyệt phụ tùy triệu chứng lâm sàng mà dùng. Sau khi dán thuốc, dùng tay day ấn 15–20 phút, ngày làm 3–4 lần. Mỗi lần dùng một huyệt. Cách ngày dán một lần, 15 ngày là một liệu trình. Liên tục hai liệu trình. Kết quả: Có kết quả 64 ca, chuyển biến 23, không hiệu quả 3. Tỉ lệ đạt 97,7% (Hà Bắc Trung Y Tạp Chí 1987 (3):17).

Dùng Ngải cứu cứu huyệt đốt sống 17 trị kinh ra nhiều quá. Ôn cứu 30–40 phút, cho đến khi khoang chậu có cảm giác nóng. Cứu phối hợp với châm sâu 0,2–0,5 thốn, hiệu quả cao hơn. Kết quả trị 20 ca, khỏi hoàn toàn (Tân Trung Y Tạp Chí 1990; 22 (7): 35)

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học