Ngũ Linh Chi

Tên Hán: 五灵脂 · Pinyin: Wǔ Líng Zhī · Tên khoa học: Faeces Trogopterori · Họ khoa học: Sóc bay (Petauristidae). · Bộ phận dùng: phân chồn bay · Xuất xứ: Khai bảo bản thảo

Tính: Ôn · Vị: Hàm, Cam · Quy kinh: Túc Quyết Âm Can

Nhóm dược lý: Hoạt Huyết Chỉ Thống

Công dụng

Chủ trị

Kiêng kỵ

Quy kinh (đường kinh)

Mô tả

Là phân khô của con Sóc bay hoặc con Phỉ thử (Pteromys volans L).

Thành phần hoá học

Nhiều chất nhựa, urê, acid uric và vitamin A (Trung Dược Học).

Dược lý

Thuốc có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn lao, nước thuốc có tác dụng ức chế nhiều loại nấm ngoài da, làm dịu co thắt của cơ trơn (Trung Dược Học).

Tính vị quy kinh (y văn)

TÍNH VỊ:

Vị ngọt, tính ôn, không độc (Khai bảo bản thảo).

Vị ngọt, chua, khí bình, không độc (Bản thảo hội ngôn).

Vị đắng, ngọt, tính ôn (Trung Dược Học).

Vị ngọt, tính ôn (Đông dược học thiết yếu).

QUY KINH:

Vào kinh

Vào kinh Can (Trung Dược Học).

Vào kinh Can (Đông dược học thiết yếu).

Chủ trị (y văn)

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

Năng hành huyết, chỉ huyết. Trị ngực bụng có lãnh khí, phụ nữ ngực đau, huyết khí đau như kim đâm (Bản thảo diễn nghĩa).

Hành huyết thì dùng sống, muốn cầm máu thì phải sao. Có tác dụng thông kinh bế, trị kinh nguyệt kéo dài không dứt, sản phụ bị huyết vận, trị trẻ nhỏ bị cam tích, giun (Bản thảo mông thuyên).

Hoạt huyết, chỉ thống, hóa ứ, cầm máu, giải độc. Trị các chứng đau như thống kinh, bế kinh, đau bụng sau khi sinh, ngực đau, bụng đau, băng lậu, trùng thú cắn (Trung Dược Học).

Thông ứ huyết, chỉ thống. Trị đau bụng khi hành kinh, các chứng sán khí, báng, huyết trệ (Đông dược học thiết yếu).

KIÊNG KỴ:

Người huyết hư không có ứ trệ thì cấm dùng (Đông dược học thiết yếu).

Phụ nữ có thai cần thận trọng khi dùng. Huyết hư mà không có ứ huyết: không dùng (Trung Dược Học).

Ngũ linh chi sợ Nhân sâm, vì vậy không nên dùng chung (Bản thảo kinh sơ).

LIỀU DÙNG:

3 – 10g.

Nuôi trồng

ĐỊA LÝ:

Sống hoang, chủ yếu có ở Hà Bắc, Sơn Tây. Còn phải nhập.

BỘ PHẬN DÙNG:

Thứ màu nâu đen, đóng thành cục, bóng nhuận, không lẫn đất cát, không lẫn tạp chất là tốt. Thứ thành hạt rồi là kém.

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

Thường gặp hai loại:

Linh chi khối: Do nhiều hạt phân kết chặt vào nhau thành tảng không theo hình thù nhất định nào, to nhỏ không đều. Mặt ngoài màu nâu đen, nâu đỏ hoặc màu nâu tro, lồi lõm, có dầu, bóng trơn. Hạt phân hình trụ bầu dục dài, mặt ngoài thường vỡ nứt, vết gãy không phẳng, hình dáng hạt phân lờ mờ. Mùi tanh, vị đắng. Linh khi khối màu nâu đen, bóng trơn, có dầu nhờn, không có tạp chất là loại tốt.

Linh chi mễ: Hạt hình bầu dục dài, hai đầu tròn đầy, dài 0,5 – 1,8 cm, đường kính 0,3 – 0,7 cm. Mặt ngoài màu nâu đen, nâu tro hoặc nâu đỏ, khá trơn, phẳng hơn hoặc hơi thô, thường nhìn thấy nốt chấm màu nhạt, có hạt hơi bóng láng. Nhẹ nhưng chất xốp, dễ gãy, vết bẻ màu vàng, màu xanh vàng hoặc màu nâu den, có chất xơ. Hơi có mùi, vị hơi đắng, mặn.

Linh chi mễ mặt ngoài màu nâu đen, trong màu xanh vàng, không có tạp chất là loại tốt.

Linh chi khối tốt hơn Linh chi mễ.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Quanh năm. Nhặt bỏ tạp chất, phơi khô là được.

Bào chế

BÀO CHẾ.

Theo Trung Y: Dùng Ngũ linh chi thì nhặt bỏ hết sạn đất, tẩm rượu sao hoặc tẩm dấm sao hoặc để sống dùng tùy từng trường hợp (Lôi công bào chế dược tính giải).

Linh chi tẩm Dấm: Lấy Ngũ Linh-chi sạch, dập thành miếng nhỏ, cho vào nồi sao qua lửa nhỏ, đồng thời phun ngay dấm vào cho ướt, sao lại đến hơi khô, còn bóng láng thì thôi, lấy ra, phơi khô là được (Dược tài học).

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Có nhiều tạp chất, giã nhỏ hoặc thủy phi: gạn bỏ nước đầu; để lắng lấy cặn. Phơi khô tán bột (dùng sống).

Nhặt bỏ tạp chất rửa đãi thật nhanh, phơi khô tẩm rượu để một lúc. Sao khô dùng (mới sao thì mềm, sau đó sẽ cứng lại).

BẢO QUẢN:

Tránh ẩm, tránh nóng, dễ bị mốc. Để nơi khô ráo, mát, thoáng.

Đơn thuốc tham khảo

Trị cơn đau thắt ngực do khí trệ huyết ứ, tử cung xuất huyết, đau bụng kinh: Ngũ linh chi, Bồ hoàng, lượng bằng nhau. Thuốc tán bột mịn, trộn đều. Mỗi lần dùng 8-12g, bọc vải, sắc nước, chia 2 lần uống trong ngày (Thất tiếu tán – Hòa tể cục phương).

Trị sau khi sinh, sản dịch ra chậm, lưng đau, bụng dưới đau như kim đâm, lúc nóng lúc lạnh, đau đầu, không muốn ăn uống, tim đau: Ngũ linh chi, ngâm nước, rửa sạch, sao, nghiền nát, 30g, trộn với dấm, nấu nhỏ lửa thành cao. Trộn thêm bột Bồ hoàng, làm thành viên, to bằng hạt Nhãn. Mỗi lần uống 1 viên với nước và Đồng tiện đun nóng (Tử kim hoàn – Sản nhũ tập nghiệm phương).

Trị tim tự nhiên đau không thể chịu được: Ngũ linh chi, nghiền nát. Mỗi lần uống 6g với rượu hoặc dấm (phụ nữ) (Kê phong phổ tế phương).

Trị trường phong hạ huyết: Ngũ linh chi, sao cho hết khói, tán bột. Mỗi lần uống 3g với nước sắc $Ơ$ mai và Trắc bá diệp (Vĩnh loại kiềm phương).

Trị máu đi vào Vị khiến cho nôn ra máu không ngừng: Ngũ linh chi 30g, Hoàng kỳ 15g. Tán bột, uống 6g với nước (Bản thảo cương mục).

Trị mắt mọc màng: Ngũ linh chi, Hải phiêu tiêu, lượng bằng nhau. Tán nhuyễn. Dùng gan heo luộc chín, chấm thuốc ăn (Minh mục kinh nghiệm phương).

Trị lưỡi dầy cứng (trùng thiệt), họng sưng đau [ hầu tý]: Ngũ linh chi 30g, tán nhuyễn, dùng dấm gạo 1 chén to, sắc kỹ, ngậm súc miệng (Kinh nghiệm lương phương).

Trị kinh nguyệt không đều, hoặc ứ huyết kết tụ ở bụng dưới đau dữ dội, hoặc thai tiền sản hậu, huyết vận, băng huyết, sau khi đẻ, vùng tim và bụng đau quặn hoặc huyết mê tâm khiếu, bất tỉnh, và các chứng đau do khí và do ứ trệ: Ngũ linh chi (nghiền, bỏ sạch cát, sao với rượu), Bồ hoàng (một nửa để sống, một nửa sao), tán nhỏ, cho vào 5ml dấm, nấu cho đặc lại thành cao, rồi cho một 200ml nước vào sắc còn bẩy phần là được, uống nóng trước bữa ăn (Thất tiếu tán – Kinh nghiệm phương).

Trị đau do viêm loét dạ dày – tá tràng: Ngũ linh chi, Ô tặc cốt, Hương phụ đều 10g, Diên hồ sách, Cam tùng đều 6g, Xuyên luyện tử, Mộc hương, Ô dược, Nhũ hương, Một dược đều 5g, Hoàng liên 3g. Sắc uống (Sổ tay lâm sàng trung dược).

Trị viêm gan virút: Nhân trần thất tiếu tán (Nhân trần Ngũ linh chi, Sao bồ hoàng), trị 200 ca (cấp 139 ca, mạn 64 ca), trị khỏi 140 ca, tốt 50 ca, không kết quả 10 ca (Hồ Bắc Trung y tạp chí 1985, 5:17).

Trị vô sinh do nội mạc tử cung tăng sinh: Dùng bài Thất tiếu tán gia vi trị bệnh thu kết quả tốt (Triết Giang Trung y tạp chí 1985, 9(4) 24).

Trị chứng nhi chẩm thống (sau khi sinh, tử cung không trở lại bình thường gây đau): Ngũ linh chi, cho vào nồi, tăng nhiệt cho nóng, vừa sao, vừa rưới thêm dấm gạo, trộn đều, đợi đến khi ngửi thấy mùi thuốc, lấy ra, tán nhuyễn. Ngày uống 3 lần với rượu. Thường chỉ uống 1 ngày là giảm đau, 2 ngày là khỏi hẳn (Hiện đại thực dụng Trung dược).

Tham khảo

Ngũ linh chi là thuốc của kinh túc Quyết âm Can, khí vị đều nặng, âm trung chi âm cho nên vào phần huyết. Can chủ huyết cho nên vị này trị bệnh về huyết, tán huyết, hóa huyết mà giảm đau. Thuốc trị kinh giãn, trừ ngược lỵ, tiêu tích, hóa đàm, tiêu cam, sát trùng, trị các chứng huyết tý, đều thuốc kinh Can. Thất tiếu tán không chỉ trị bệnh phụ nữ tâm thống, huyết thống mà tất cả các chứng tâm phúc, sườn, bụng dưới đau, sán khí của mọi người già trẻ, trai gái, bệnh thai tiền sản hậu, khí huyết thống băng huyết, kinh nhiều đều trị được (Bản thảo cương mục).

"Ngũ linh chi vị đắng, tính hàn, có tác dụng tả hỏa. Dùng sống thì hành huyết, thông lợi huyết mạch, trị đầu phong, ế cách, chứng điên giản do đàm, các chứng ung nhọt nhiệt độc, phụ nữ kinh bế, bụng dưới đau, sau sanh ra máu xấu, đau, đều trị được. Thuốc sao lên trị chứng mất huyết, làm cho huyết quy kinh mà không đi bậy, có thể trị băng trung, thai lậu và trường hồng huyết lỵ (Dược phẩm hóa nghĩa).

Trong thuốc trị về khí có kiêm hành huyết, như Tam lăng, Nga truật. Trong thuốc trị về huyết có kiêm hành khí, như Bồ hoàng, Ngũ linh chi.

Huyết trệ ở trong khí, không có Tam lăng, Nga Truật thì không thể hành khí để làm cho huyết thông được, (Hành huyết).

Khí trệ ở trong huyết, không có Bồ hoàng, Ngũ linh chi, thì không thể hành huyết để làm cho khí thông được (hành khí) (Đông dược học thiết yếu).

Bài thuốc có dùng vị này (139)

Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…