🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Điên Bệnh Học

Điên (Đối Chiếu Bệnh Danh: Alinetion). Gặp nhiều nơi thanh và tráng niên, gần đây nhỏ tuổi cũng thấy bị bệnh này. Bệnh này đã được giới thiệu trong sách Nội Kinh.

Đại Cương

Gặp nhiều nơi thanh và tráng niên, gần đây nhỏ tuổi cũng thấy bị bệnh này.

Bệnh này đã được giới thiệu trong sách Nội Kinh. Thiên Điên Cuồng (Linh Khu 72) viết: "Chứng Điên tật lúc mới bắt đầu sinh ra, trước hết làm cho bệnh nhân không vui, đầu bị nặng và đau nhức, mắt đỏ, nếu bệnh phát lên đến cực rồi giảm (dứt), sau đó bị phiền Tâm". Về điều trị, thiên này cũng nhấn mạnh: "Phép trị bệnh điên tật, (người thầy thuốc) phải thường ở bên cạnh (người bệnh) để quan sát những nơi cần thủ huyệt để chữa".

Thiên Chí Chân Yếu Đại Luận (Tố Vấn 74) viết: "Các chứng táo cuồng dại đều thuộc về hỏa".

Thiên Mạch Giải (Tố Vấn 49) viết: "Dương khí bốc lên cả trên, mà Âm khí đành trơ trọi ở dưới. Dưới hư trên thực, nên mới sinh ra cuồng và điên, như vậy" và "Bệnh đến thời muốn lên cao mà hát, cởi bỏ áo mà chạy..." đó là vì âm dương lại tranh giành nhau rồi dồn cả ra phần dương ở bên ngoài, nên mới gây thành chứng trạng như vậy".

Nan thứ 20 (Nan Kinh) viết: "Khi bị trùng Âm thì bệnh điên".

Sách Chứng Trị Chuẩn Thằng – Điên Cuồng Giản Tổng Luận nhận định: "Chứng điên hoặc cuồng hoặc trầm tư hoặc ca hát hoặc cười hoặc buồn hoặc khóc, như say, như ngốc, nói bậy có đầu không đuôi, quen lạ không biết, kéo dài lâu tháng lâu năm không khỏi".

Y học hiện đại xếp vào loại bệnh Tinh Thần Phân Liệt, bệnh Tâm Thần, bệnh Rối Loạn Tâm thần do tổn thương não...

Tương ứng với thể trầm cảm, hoang tưởng và ảo giác của thể trầm cảm, thể mạn tính.

Nguyên Nhân

Bệnh thường gặp nơi người:

Thần Chí Bị Tổn Thương: Đa số do buồn bực, tức giận uất ức không giải được khiến cho Can không sơ tiết được, khí cơ không thông, tâm thần hoảng loạn gây nên. Hoặc do Can khí uất kết không giải, đờm thấp sinh ra ở bên trong hoặc Can uất hóa hỏa thì đờm hỏa nghịch lên, tâm thần bị tổn thương gây nên bệnh. Cũng có thể do tức giận quá, khí cơ bị ngăn trở huyết không vận hành được hoặc do đờm ứ kết, không thăng giáng được, âm dương không điều hòa, tinh thần không quản lý được gây nên bệnh.

Đờm Khí Uất Kết: Suy nghĩ thái quá, ước nguyện không thỏa mãn được, Tâm khí uất ức, Tỳ khí không phát, đờm khí uất kết bốc lên thanh khiếu, che lấp tâm thần khiến cho thần chí hỗn loạn gây nên bệnh. Bệnh kéo dài sẽ làm cho tâm huyết bị hao tổn, Tỳ mất chức năng sinh hóa, Tâm Tỳ đều hư yếu, huyết không nuôi dưỡng cho tâm, hoặc do uống thuốc làm cho trung châu bị tổn thương, trung dương hư yếu, thần minh không được nuôi dưỡng gây nên bệnh.

Do Di Truyền: Tức là nhiễm độc từ trong thai như quá kinh sợ làm cho thai khí bị ảnh hưởng, mất chức năng thăng giáng, âm dương mất quân bình khiến cho tiên thiên không đủ, não và thần bị hư tổn, sau khi sinh ra, khí cơ bị nghịch loạn, thần cơ hỗn loạn gây nên bệnh.

Sách Chẩn Đoán Tật Bệnh Châm Cứu Trị Liệu Khái Yếu nêu lên một số nguyên nhân như: Tâm khí hư, Đờm nhiệt thịnh, kinh sợ, Giận dữ, Khí huyết không đủ, Đờm ngưng nơi bào lạc, Tư lự quá, Tâm kinh có nhiệt uất, Âm hư, Thần hư.

Biện Chứng Luận Trị

TRIỆU CHỨNG

Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:

Can Khí Uất Kết: Tinh thần uất ức, tình chí không thoải mái, trầm mặc, ít nói, hay giận vô cớ, thỉnh thoảng thở dài, ngực sườn đầy tức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Huyền.

ĐIỀU TRỊ: Sơ Can giải uất, hành khí đạo trệ. Dùng bài Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm. (Sài hồ, Chỉ xác, Hương phụ, Hậu phác sơ Can, lý khí, giải uất; Bạch thược nhu Can, Xương bồ, Viễn chí, Uất kim để khai Tâm khiếu).

Đờm Khí Uất Kết: Tinh thần uất ức, vui buồn thất thường, lúc cười lúc khóc, không muốn ăn uống, không biết sạch bẩn, rêu lưỡi mỏng nhớt, mạch Huyền Hoạt hoặc Huyền Hoạt.

ĐIỀU TRỊ: Lý khí, giải uất, hóa đờm, khai khiếu, tỉnh thần. Dùng bài:

Ôn Đởm Thang gia giảm: Bán hạ, Trần bì, Chỉ thực đều 8g, Phục linh 12g, Cam thảo, Trúc nhự đều 6g, Sinh khương 2g. Sắc uống

Ngực sườn đầy tức thêm Hương phụ, Uất kim đều 8g. Ý thức mơ hồ thêm Xương bồ, Viễn chí đều 8g. Mất ngủ thêm Toan táo nhân 20g. Bứt rứt không yên thêm Hoàng liên 8g

Thuận Khí Hóa Đờm Thang: Phục thần 12g, Bán hạ (chế Gừng), Trúc lịch, Hương phụ, Uất kim đều 8g, Trần bì, Nam tinh (chế), Viễn chí đều 6g. Sắc uống (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Thuận Khí Đạo Đờm Thang (Nghiệm Phương).

(Trong bài dùng Nhị Trần Thang là thuốc của kinh túc Thái âm và túc Dương minh; Bán hạ vị cay, ôn, thể hoạt, tính táo để hành thủy, lợi đờm, làm quân; Đờm do khí bị trệ, khí thuận thì đờm sẽ giáng, vì vậy, dùng Quất hồng để lợi khí. Đờm do thấp sinh ra, thấp bị khứ thì đờm sẽ tiêu đi, vì vậy dùng Phục linh để kiện Tỳ, thấm thấp, làm thần; Thêm Đởm tinh, Chỉ thực gọi là Đạo Đờm Thang làm tá để trị đờm kết lâu ngày. Nếu chỉ dùng bài Nhị Trần Thang, không đủ sức để trừ, vì vậy dùng Đởm tinh để hỗ trợ cho Bán hạ và Chỉ thực, giúp quét sạch đờm kết lâu ngày; Ngoài ra thêm Hương phụ, Mộc hương để thuận khí giải uất làm sứ).

Có thể thêm Uất kim, Xương bồ để tăng cường khả năng lý khí, giải uất, tỉnh thần. Thêm Thương truật để hỗ trợ Hương phụ khiến cho khí cơ được thông sướng, đờm khí tự tiêu, khiếu được tuyên thông, thần quay trở lại thì bệnh sẽ khỏi.

Tâm Tỳ Đều Hư: Bệnh kéo dài, hồi hộp, sợ hãi, không vui, dễ khóc, không biết đói, tinh thần và trí nhớ giảm, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Tế Nhược.

ĐIỀU TRỊ:

Kiện Tỳ, an thần, bổ Tâm Tỳ (ích huyết) (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Dùng bài: Thất Vị Ẩm gia giảm: Đảng sâm 16g, Phục thần, Mạch môn, Thiên môn, Huyền sâm, Câu đằng đều 12g, Bối mẫu, Xương bồ, Đởm tinh, Viễn chí, liên kiều đều 8g, Thần sa 0,6g. Sắc uống (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Điều tiết khí cơ, kiện Tỳ dưỡng Tâm dùng bài Dưỡng Tâm Thang uống chung với Việt Cúc Hoàn.

(Dùng Việt Cúc Hoàn để điều tiết khí cơ, làm cho khí huyết được thông, dựa theo ý Khí huyết lưu thông tức là bổ. Bài Dưỡng Tâm Thang có tác dụng kiện Tỳ, dưỡng Tâm, an thần, dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ, Cam thảo để bổ Tỳ khí; Xuyên khung, Đương quy dưỡng Tâm huyết; Phục linh,Viễn chí, Bá tử nhân, Toan táo nhân, Ngũ vị tử để ninh Tâm, an thần, làm cho Nhục quế dẫn thuốc đi vào kinh Tâm, để hỗ trợ tác dụng dưỡng Tâm, an thần).

Cũng có thể dùng Việt Cúc Hoàn để thư khí cơ, hợp với Ôn Đởm Thang để điều hòa Tâm và Đởm, làm cho âm dương điều hòa, khí huyết được lưu thông, hư được bổ thì bệnh sẽ khỏi (Trung Y Nội Khoa Học).

Khí Âm Đều Hư: Bệnh trị lâu ngày không khỏi, thần trí hoảng sợ, nói nhiều, sợ sệt, tâm phiền, thường hay tức giận, nóng nẩy, không ngủ được, mặt đỏ, cơ thể gầy ốm. Miệng lưỡi khô, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu, mạch Trầm Tế mà Sác.

ĐIỀU TRỊ: Ích khí, dưỡng âm. Dùng bài Tứ Quân Tử Thang uống với bài Đại Bổ Âm Hoàn.

(Tứ Quân Tử Thang bổ trung, kiện Tỳ, ích khí, khí thuộc dương, dương sinh âm trưởng, âm hư được dưỡng thì hỏa vượng sẽ tự giáng xuống. Bệnh lâu ngày làm tổn hại Thận, âm hư hỏa vượng, vì vậy dùng Đại Bổ Âm Hoàn, lấy Hoàng bá (tẩm muối), Tri mẫu (tẩm muối), Thục địa (chưng rượu), Quy bản, Trư tích tủy (tủy sống con heo), trộn với mật làm thành hoàn, uống với nước pha muối loãng, là thuốc của túc Thiếu âm. Bốn vị này có tác dụng tư âm, bổ Thận. Bổ thủy thì hỏa sẽ giáng xuống. Nghĩa là dùng tráng thủy làm chính để ức chế dương quang. Thêm Trư tích tủy để thông thận và mệnh môn, dương sinh âm trưởng, Thận và Mệnh môn tương thông, dùng phép tư âm giáng hỏa khiến cho âm dương điều hòa, thần cơ tự quay về thì bệnh sẽ khỏi (Trung Y Nội Khoa Học).

Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm

Bạch phàn 30 – 90g, đường trắng 30 – 90g, nước 300 ml, uống thuốc vào buổi sáng sớm. Khoảng một phút sau khi uống thuốc trên, bệnh nhân sẽ nôn ra đờm nhầy, nôn kịch phát sẽ kéo dài 7 – 8 tiếng. Nếu bệnh nhân có dấu hiệu mất nước, cho bệnh nhân uống một ít nước muối và ăn một chút, nhưng thường thì không nên dùng thức ăn trong 6 giờ sau khi uống thuốc. Nếu cần thiết 7 ngày sau có thể uống 1 lần nữa (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).

Đại hoàng 30 – 120g, Uất kim 9g, Thạch xương bồ 30g. Sắc với khoảng 400ml nước, uống vào lúc bụng đói, vào sáng sớm (người bị loét dạ dày hoặc lao ruột hạn chế dùng thuốc này). Khoảng nửa giờ sau khi uống thuốc bệnh nhân sẽ cảm thấy đau nhẹ trong bụng, sau đó tiêu chảy, ra phân nhầy. Liều lượng Bạch phàn và Đại hoàng trong hai phương thuốc trên tùy thuộc vào tuổi, thể chất và tình trạng của bệnh.

Nếu bệnh nhân bị hưng cảm, mạch Huyền Thực: Dùng phương thuốc 1 hoặc phương thuốc 2.

Sau khi uống thuốc, bệnh nhân thường có một cảm giác trống rỗng và cảm thấy hoảng sợ, lúc đó bệnh nhân nên được giữ yên lặng và hạn chế bất kỳ một kích thích, nhưng nên châm (Trung Quốc Đương Đại Danh Trung Y Bí Nghiệm Phương Lâm Chứng Bị Yếu).

Mông Thạch Cổn Đàm Hoàn 3 – 9g, ngày uống 2 lần (Thái Bình Thánh Huệ Phương): Đại hoàng, Hoàng cầm đều 320g, Phác tiêu, Thanh mông thạch 40g, Trầm hương 20g. Đập vụn Mông thạch. Dùng Phác tiêu cùng bỏ vào nồi đất, trét kín. Nung lửa cho khô đến mức Mông thạch có mầu vàng, lấy ra, tán nhuyễn, hòa chung với các vị thuốc kia (đã tán nhuyễn). Làm thành viên. Ngày uống 8–12g với nước Gừng.

Bạch Kim Hoàn: Bạch phàn 270g, Uất kim 630g, trộn chung và tán nhỏ làm thành hoàn.

Nếu bệnh nhân bị trầm cảm, mạch Trầm Huyền Hoạt, dùng phương thuốc số 3 hoặc 4 (Trung Quốc Đương Đại Danh Trung Y Bí Nghiệm Phương Lâm Chứng Bị Yếu).

Nhị Long Tam Giáp Thang (Vân Nam trung Y Tạp Chí 1983, 5): Long đởm thảo 15–25g, Hoàng cầm 20g, Thạch cao 100–500g, Đại hoàng 10–20g, Bạch thược, Sinh địa đều 30g, Toan táo nhân 25g, Long cốt (sống), Mẫu lệ (sống) đều 30-50g, Thạch quyết minh 20–30g, Trân châu mẫu 30–50g, Hổ phách 6g, Sinh thiết lạc 100–500g, Phục linh 50g, Cam thảo 5g. Sắc uống.

Tác Dụng: Tả Can hỏa, tiềm Can dương, ích Can huyết, tiết dương minh. Trị điên cuồng.

Đã trị 36 ca, khỏi 28, có kết quả 6, không kết quả 2. Đạt tỉ lệ 94,44%.

(Long đởm thảo, Hoàng cầm thanh tả Can hỏa; Long cốt, Mẫu lệ, Thạch quyết minh, Trân châu mẫu, Thiết lạc trọng trấn tiềm dương; Sinh địa, Bạch thược, Toan táo nhân sinh huyết, dưỡng Can; Cam thảo, Phục linh ích khí, an hồn, dưỡng thần; Đại hoàng, Thạch cao trừ nhiệt ở dương minh. Đại hoàng được Bạch thược, Hoàng cầm, Mẫu lệ và Phục linh thì trị được tức giận, hoảng sợ; Hổ phách an ngũ tạng, định thần hồn).

Long Mẫu Bạch Vi Cát Diệp Thang (Chu Phượng Ngôn Phương): Long cốt (sống), Mẫu lệ (sống) đều 30g, Bạch vi, Cát diệp (lá Cát cánh), Sinh địa, Bạch thược (sống), Ngưu tất đều 12g, Huyền sâm, Mạch môn, Sơn chi tử, Trúc nhự đều 9g, Chỉ xác (sao) 6g, Cam thảo (sống) 3g. Lần đầu đổ vào 600ml (3 chén nước), nấu nhỏ lửa 30 phút, lấy khoảng 2 chén nước. Lần hai nấu với 500ml nước còn 1,5 chén, trộn đều hai chén thuốc, chia hai lần uống.

Tác Dụng: Thanh nhiệt, hóa đờm, ninh Tâm, an thần. Trị tinh thần phân liệt (đờm nhiệt nội kết, bốc lên Tâm, thần).

Cổn Đờm An Thần Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Trúc nhự 20g, Trần bì 10g, Bán hạ (tẩm Gừng) 15g, Phục linh 20g, Cam thảo, Viễn chí (chích), Xương bồ đều 10g, Toan táo nhân (sao) 30g, Long cốt (sống), Mẫu lệ (sống), Trân châu mẫu, Dạ giao đằng đều 30g, Mạch môn 10g. Sắc uống.

Tác Dụng: Hóa đờm, trấn tĩnh, ninh tâm, an thần. Trị tinh thần phân liệt.

Giải Độc An Thần Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Thạch xương bồ 12g, Uất kim (sao với nước), Sơn chi (sao) đều 10g, Mạch môn, Hương phụ (chế dấm) 12g, Bối mẫu, Đởm nam tinh, Viễn chí (nướng) đều 10g, Toan táo nhân (sao) 15g, Bá tử nhân (sao) 122g, Mẫu lệ (sống), Long cốt (sống) đều 30g, Trúc diệp 10g, Liên tâm 6g, Mộc hương 9g. Sắc uống.

Tác Dụng: Lý khí, giải uất, thanh Tâm, khai khiếu, an thần. Trị điên (tinh thần phân lập).

Dưỡng Doanh Tỉnh Thần Thang (Liêu Ninh Trung Y Tạp Chí 1987, 8): Hoàng kỳ (nướng), Đảng sâm, Táo nhân (sao), Đan sâm 15g, Hắc phụ phiến 9–12g, Bạch truật (sao), Cửu tiết xương bồ đều 9g, Viễn chí 4,5g, Ngũ vị tử 3–4,5g, Can khương 3g. Sắc uống.

Tác Dụng: Ôn Thận kiện Tỳ, thông khiếu, tỉnh thần. Trị điên cuồng.

Uống khoảng 10 thang là có kết quả dần.

CHÂM CỨU

Đờm Khí Uất Kết:

Can du, Tỳ du, Thái xung, Phong long, Nội quan (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Cổn đờm, tỉnh não. Châm Phong long, Nội đình, Âm lăng tuyền, Đàn trung, Thần đình (Bị Cấp Châm Cứu).

Tâm Tỳ Đều Hư:

Tỳ du, Tâm du, Túc tam lý, Tam âm giao, Nội quan, Thần môn (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Bổ ích Tâm Tỳ. Châm Tâm du, Tỳ du, Túc tam lý, Thân mạch, Nội quan (Bị Cấp Châm Cứu).

Âm Hư Hỏa Vượng: Dùng tư âm, an thần. Chọn huyệt Tam âm giao,Thái khê, Túc tam lý, Nội quan, Thần môn (Bị Cấp Châm Cứu).

Điều khí hóa đờm, thanh Tâm an thần. Châm Thần môn, Đại lăng, Ấn đường, Chiên trung, Phong long, Tam âm giao.

(Đại lăng hợp với Thần môn là theo cách phối Nguyên và lạc huyệt của kinh Tâm và Tâm bào, có tác dụng thanh Tâm an thần; Chiên trung, Ấn đường điều khí tỉnh não; Phong long, Tam âm giao hòa Vị hóa đờm) (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).

Huyệt chính: Nhân trung, Thần môn, Trung quản. Phối hợp với Nội quan, Hậu khê, Phong long. Châm bình bổ bình tả (Chẩn Đoán Tật Bệnh Châm Cứu Trị Liệu Khái Yếu).

TÓM KẾT: Hai chứng Điên và Cuồng, một chứng thuộc Đờm Khí, một chứng thuộc Đờm Hỏa, lại phân ra âm dương, hư thực, có thể bị riêng cũng có thể chuyển hóa lẫn nhau, vì vậy, trên lâm sàng cần lưu ý cho phù hợp với bệnh chứng.

Bệnh Án

Y ÁN ĐIÊN CUỒNG — TÂM THẦN PHÂN LIỆT

(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q. Thượng)

Nữ, 16 tuổi. Vì uất giận không nguôi mà dẫn tới tinh thần thất thường, khi khóc khi cười, không ăn không ngủ, nói năng lung tung, mỗi kỳ kinh nguyệt bệnh lại nặng thêm, đã nằm điều trị mấy lần ở một bệnh viện tâm thần, vẫn chưa chữa khỏi. Khám thấy đúng là bệnh tâm thần phân liệt, cho dùng Bình Cuồng Thang (Kim mông thạch 25g, Uất kim 15g, Tam lăng 10g, Nga truật 10g, Mộc hương 5g, Nhị sửu 15g, Sinh đào nhân 15g, Chỉ xác 10g, Sinh đại hoàng 15g, Can khương 5g, Mang tiêu 30g (chia uống với nước thuốc), phối hợp với uống Hoạt Huyết Tán (Tam thất 50g, Huyết kiệt 50g, Hổ phách 50g, Tây hồng hoa 30g, Chu sa 20g, Xạ hương 2g, Băng phiến 10g, tất cả đem tán mịn, cho vào lọ kín, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2–3g), uống được mấy thang, các triệu chứng đều lui, bệnh khỏi. Sau đó đã đi làm, theo dõi mấy năm cũng không thấy bệnh tái phát.

Nữ, 23 tuổi. Do bị kinh hãi quá mức, lại thêm cãi nhau mà tức giận, dẫn đến tinh thần thất thường, lúc khóc lúc cười, cả đêm kêu khóc không ngủ, chỉ ăn một ít hoa quả, không cơm cháo, người nhà vô cùng lo lắng thương xót. Khám xong cho dùng Bình Cuồng Thang, uống được 1 thang, các triệu chứng lui được quá nửa, bệnh đã thấy chuyển biến nhiều, uống liền 3 thang, các chứng lui hết, bệnh khỏi hẳn.

Bàn luận: Bài thuốc Bình Cuồng Thang có các vị mạnh, tác dụng tả hạ rất mạnh, khi dùng cho bệnh nhân tiêu chảy không nặng lắm thì có thể theo quy định chung, uống mỗi ngày 1 thang. Đối với người tiêu chảy nặng thì có thể cho uống cách ngày, còn đối với bệnh nhân nặng hơn nữa thì có thể ngừng dùng thuốc. Theo quan sát lâm sàng, nói chung sau khi uống thuốc, các bệnh nhân đi lỏng nhiều tức là thuốc có công hiệu tốt, phân lỏng có thể ở dạng nước, dịch nhầy lẫn máu, có bọt, sau khi đi ra được hết thì bệnh có nhiều hy vọng chữa khỏi. Nhưng cần chú ý đề phòng hư thoát.

Lý XX, nữ, 20 tuổi. Bệnh nhân mới sinh con được 20 ngày. Do chuyện vặt mà cãi nhau với hàng xóm, tức giận sinh ra tâm thần thất thường, chửi bới mọi người, quăng hết mọi đồ dùng, có lúc trợn mắt hoa chân múa tay như muốn đánh nhau, nhưng không làm gì mọi người, suốt ngày hò hát kêu gào, bồn chồn không ngủ, đã bảy đêm liền không chợp mắt, tinh thần hưng phấn quá mức. Tây y chẩn đoán là bệnh tâm thần phân liệt. Đã cho uống Aminazin, nhưng vô hiệu. Bệnh nhân hai mắt mở trừng trừng, hỏi người nhà thì được biết bệnh nhân đã mấy ngày không đại tiện, đau bụng dưới, cự án, khi phát bệnh thì đã hết máu hôi, mạch Huyền Hoạt hữu lực, môi đỏ thẫm, rêu lưỡi vàng bẩn. Sau khi khám, cho dùng Cuồng Tỉnh Thang (Sài hồ 12g, Đại hoàn 9g, Chỉ thực 9g, Đan bì 12g, Đào nhân 12g, Xích thược 9g, Bán hạ 9g, Trúc nhự 9g, Sinh khương 12g, Chi tử 9g, Uất kim 9g, Trần bì 9g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang). Uống được 1 thang, đại tiện lỏng, tháo ra rất nhiều, đều là phân nhầy thối khẳm, đêm ấy ngủ được, gọi không tỉnh dậy, sau một đêm ngủ say, khi tỉnh dậy tinh thần đã tỉnh táo, như vừa trải qua một cơn mê, lại có máu hôi, bệnh khỏi.

Hồ XX, nam, 30 tuổi, nông dân, tới khám ngày 10-3-1963. Tháng trước, gia đình bất hòa, lại bị cảm phong hàn, uống Lộc tiên quá nhiều. Sau đó đột nhiên đập phá, đánh người bất kể thân sơ, trèo lên cao cởi bỏ quần áo, sức lực tăng lên bội phần, không phân biệt bẩn sạch, không biết đói khát. Chẩn đoán lâm sàng là bệnh tâm thần phân liệt, điều trị gần 1 tháng mà hiệu quả chưa thấy rõ. Khám thấy sắc mặt đỏ sẫm, chất lưỡi đỏ tím, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch Huyền Đại, chứng này thuộc về đàm hỏa thượng viêm, bế tắc tâm khiếu. Cần trị bằng phép hóa đờm khai khiếu, thanh hỏa an thần. Cho dùng Thiết Lạc Ẩm (Mạch môn 12g, Thiên môn 12g, Triết bối mẫu 12g, Đan sâm 12g, Huyền sâm 12g, Phục linh 12g, Phục thần 12g, Câu đằng 12g, Liên kiều 12g, Trần bì 5g, Đởm nam tinh 5g, Thạch xương bồ 5g, Viễn chí 5g, Chu sa 3g (uống với nước uống). Sinh thiết lạc 200g (sắc trước 1 giờ). Uống liền hai ngày các triệu chứng giảm hẳn. Ngày 12-3 khám lại thấy bệnh nhân ăn nói đã mạch lạc, tâm thần đã ổn. Lại cho dùng tiếp 4 thang nữa, bỏ Sinh thiết lạc. Uống hết thì bệnh khỏi. Theo dõi mười năm không thấy tái phát.

Hứa XX, nữ, 21 tuổi. Mới kết hôn được nửa tháng, không toại nguyện, buồn rầu ảo não, phát bệnh cuồng, cả đêm không ngủ, nói năng lung tung, có lúc kêu gào la hét. Khi khám, bệnh nhân cười sằng sặc không ngớt, trèo lên bàn nhảy múa, mặt đỏ, thể thực, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Hoạt Sác hữu lực. Bệnh thuộc về Can Đởm xuất hỏa hợp với đờm che lấp tâm khiếu. Cho dùng Gia Giảm Long Đởm Tả Can Thang (Long đởm thảo 9g, Sơn chi tử 9g, Hoàng cầm 9g, Sao sài hồ 3g, Sinh địa hoàng 12 g, Trần đảm tinh 6g, Xương bồ 6g, Uất kim 9g, Sinh đại hoàng 15g, Thục đại hoàng 15g, Huyền minh phấn 12g, Hoàng liên 3g, Sinh thiết lạc 30g. Sắc uống thay nước, nhiều lần trong 2 ngày một thang). Uống trong 2 ngày hết 1 thang, ngày thứ ba khám lại thấy thần sắc đã chuyển biến rõ rệt, tự kể rằng sau khi uống thuốc có đại tiện mấy lần, đi ra phân nâu đen, chất nhầy keo dính, ban đêm đã ngủ yên, tỉnh táo, nói năng rành mạch. Lại cho dùng: Gia Giảm Đơn Chi Tiêu Dao Tán (thang) để củng cố kết quả. Uống 5 thang, gồm: Đơn bì 9g, Sơn chi tử 9g, Hoàng cầm 9g, Đương quy 10g, Bạch thược 9g, Phục linh 9g, Bạch truật 9g. Cam thảo 3g, Bạc hà 3g (cho sau), Uất kim 9g. Theo dõi hơn 4 năm, không thấy tái phát.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học