🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Đái Hạ Bệnh Học

Đái Hạ. Vạn Mật trai, tác giả sách Vạn thị phụ nhân khoa, khi bàn về bệnh của phụ nữ đa nhận định rằng bệnh của phụ nữ tuy nhiều nhưng không ngoài 4 bệnh: Kinh nguyệt, Thai…

Đại Cương

Vạn Mật trai, tác giả sách Vạn thị phụ nhân khoa, khi bàn về bệnh của phụ nữ đa nhận định rằng bệnh của phụ nữ tuy nhiều nhưng không ngoài 4 bệnh: Kinh nguyệt, Thai nghén, Đái hạ và Sinh đẻ.

Như vậy, Đái hạ là 1 trong số những bệnh đã từng được người xưa nghiên cứu đến.

BỆNH DANH

Thiên Cốt không luận (Tố vấn 60), lần đầu tiên đã dùng từ Đái hạ để chỉ các chứng bệnh phụ khoa như kinh nguyệt, đái hạ, thai sản, kể cả tích tụ và trưng hà, vì những bệnh này đều nằm ở phần dưới (hạ) lưng quần (đái). Vì vậy, Tư Mã Thiên trong thiên Biển Thước công liệt truyện sách Sử ký đã ghi: "Thầy thuốc chuyên về phụ khoa, gọi là Đái hạ y".

Sách Kim quỹ ngọc hàm kinh của Trương Trọng Cảnh dùng từ Thử giai đái hạ, Hạ bạch vật và nêu ra đến 34 loại đái hạ.

Sách Thần Nông bản thảo gọi là Bạch yêu, Xích yêu, Lậu hạ, Xích bạch lậu hạ, Xích bạch yêu.

Sách Mạch kinh của Vương Thúc Hòa (thế kỷ thứ II) gọi là Lậu hạ, Xích bạch.

Sách Giáp ất kinh gọi là Hạ xích bạch, Bạch lịch, Xích lịch, Xích bạch lịch.

Sách Chư bệnh nguyên hậu luận gọi là Lậu hạ ngũ sắc.

Y học hiện đại, gọi chung là chất khí hư.

Dân gian quen gọi là khí hư, huyết trắng gọi là Khí hư là dựa theo cơ chế sinh bệnh, vì theo Đông y, khi khí bị hư yếu, sẽ bị hạ hãm xuống mà gây ra đái hạ.

Đái Hạ là gì ?

Theo các tài liệu kinh điển (Nội Kinh, Kim Quỹ, Y Tông Kim Giám...) Đái Hạ có 2 nghĩa:

Nghĩa rộng: Chỉ tất cả các bịnh liên hệ đến chứng Kinh nguyệt, Thai nghén, Sinh sản và Đái Hạ vì các bịnh này đều phát sinh ở dưới (hạ) lưng quần (đái). Vì vậy, sách Kim quỹ ngọc hàm kinh của Trương Trọng Cảnh gọi là Thử giai đái hạ.

Nghĩa hẹp: Chỉ chất dịch chảy ra từ âm đạo của người phụ nữ.

Phó Thanh Chủ, trong sách Nam nữ khoa nhận định: "Gọi là bịnh Đái là vì nước từ Mạch Đái chảy ra, nên lấy chữ Đái mà gọi tên".

Sách Y học trực chỉ ghi: Nước dơ thường chảy xuống gọi là Đái Hạ.

Sách Nữ khoa bách vấn của Tề Trọng Phủ ghi: "Trong âm đạo có chất (dịch) chảy xuống không ngớt gọi là Đái Hạ".

PHÂN LOẠI

Theo Y Học Hiện Đại

Sách Bịnh Đàn Bà của bác sĩ Lương Phán chia Đái Hạ làm 2 loại:

Đái Hạ Sinh Lý:

Là chất Đái Hạ tiết ra vào các chu kỳ bình thường của phụ nữ:

Tuổi dậy thì.

Trước hoặc sau kỳ kinh.

Lúc có thai, v.v..

Đái Hạ Bịnh Lý:

Là chất Đái Hạ tiết ra do một số bịnh lý như viêm nhiễm ở âm đạo, tử cung v.v..

BIỂU ĐỒ PHÂN BIỆT ĐÁI HẠ SINH LÝ VÀ BỊNH LÝ

Tính chất Sinh lý Bệnh lý

Sắc Trắng nhạt Đục, nhiều màu

Lượng Ít Nhiều

Thời gian Có chu kỳ nhất định Không có nhất định

Mùi Không Hôi tanh

Biến chứng Tự khỏi Lở, sưng, ngứa

Theo Y Học Cổ Truyền

Các sách Cổ như: Nội Kinh, Kim Quỹ, v.v., chỉ mới đề cập đến 2 loại Đái Hạ và Xích Đái, dù trong sách Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh có nêu lên là có 36 loại Đái Hạ, Vưu Tại Kinh trong Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển giải thích là 36 chứng Đái Hạ có nội dung khác hẳn Đái Hạ như hiện nay thường dùng. (Đái Hạ 36 loại của Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh bao gồm: 12 bịnh Trưng, 9 bịnh Thống, 7 bịnh Hại, 5 bịnh Thương Tổn và 3 bịnh Cố Tật).

Mãi đến năm 605 sách Chư bịnh nguyên hậu tổng luận của Sào Nguyên Phương mới bắt đầu có tên Ngũ Sắc Đái Hạ (Bạch, Thanh, Hoàng, Xích và Hắc đái), và hiện nay đa số các tài liệu về Phụ khoa đều theo cách phân chia này.

Sách Châm cứu học Việt Nam chỉ chia làm 2 loại: Bách Đái và Hoàng Đái.

Sách Châm cứu học Thượng Hải chia làm 3 loại:

Bạch Đái.

Xích Đái

Hoàng Đái.

Sách Thái ất thần châm cứu chia làm 2 loại:

Đái Hạ thể thấp nhiệt (gồm Hoàng Đái và Xích Đái)

Đái Hạ thể hàn thấp (Bạch Đái)

Sách Những bài thuốc hay chữa bịnh phụ khoa chia làm 8 loại:

Xích Đái.

Bạch Đái.

Hắc Đái.

Thanh Đái.

Hoàng Đái

Ngũ Sắc Đái.

Bạch Trọc.

Bạch Dâm.

Nguyên Nhân

Theo Y Học Hiện Đại:

Sách Bịnh đàn bà của Lương Phán nêu ra một số nguyên nhân sau:

Do Ký Sinh Trùng Trichomonas ở trong âm đạo và ống dẫn tiểu làm cho âm đạo sưng lên (viêm), tiết ra dịch nhầy nhiều, gọi là Đái Hạ.

Do Nấm Albicans Can didas phát triển ở âm đạo trong môi trường ở âm đạo quá chua (khi dư kích thích tố nữ, thai nghén, v.v..)

Do âm đạo bị viêm vì vi khuẩn, nhất là vi khuẩn lậu và các loại vi khuẩn thương hàn hoặc siêu vi cúm.

Do viêm cổ ngoài và cổ trong tử cung.

Viêm âm hộ do vi khuẩn.

Một số nguyên nhân khác như: Dùng xà bông, chất nylon của một số quần lót, v.v..

Theo Y Học Cổ Truyền

Rất nhiều tác giả đã nêu lên nhiều quan điểm khác nhau tùy từng thời, từng chủ trương, v.v., đã được các sách về phụ khoa ghi chép lại, v.v., có thể tóm kết như sau:

Sách Phụ khoa trung y học giảng nghĩa của học viện Trung y Thành Đô cho là chủ yếu bởi mạch Nhâm và mạch Đái vì Mạch Đái chủ việc ước thúc, còn mạch Nhâm chủ bào thai, nếu hai mạch ấy không làm tròn chức năng sẽ gây ra đái hạ.

Nguyên nhân gây ra Đái hạ có 5 loại chính:

Do Tỳ Hư

Do ăn uống mệt nhọc làm tổn thương Tỳ, Tỳ dương suy yếu, sự vận hóa mất bình thường, chất tinh vi của Tỳ không đưa lên được để sinh huyết mà lại hóa ra thấp khí lắng xuống gây ra Đái Hạ (Sách Phụ Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa).

Sách Bút Hoa Y Kính viết: "Đái Hạ có 5 sắc, không cần phải phân ngũ tạng, tóm lại không ngoài Tỳ hư có thấp mà thôi".

Do Thấp Nhiệt

Sách Phụ Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa ghi: "Thấp tà xâm nhập vào đọng lại sinh nhiệt hoặc uất kết của Mạch Đái hoặc lấn vào Tỳ làm Tỳ khí dồn xuống (hạ đàm) gây ra bịnh".

Sách Y Học Quản Bút Ký ghi: "Nếu có đái hạ đục như nước vo gạo, hôi mùi tanh thối là thấp nhiệt".

Do Can Uất

Sách Phụ Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa ghi: "Tình chí không thoải mái, Can khí uất ở trong, uất lâu hóa nhiệt xuống khắc Tỳ Thổ, Tỳ không hóa được Thấp, hãm xuống thành bịnh".

Sách Nam Nữ Khoa: "Tỳ khí hư, Can khí uất thường sinh ra Đái hạ".

Sách Phụ Đạo Xán Nhiên của Lê Hữu Trác: "Phụ nữ lo nghĩ, tức giận nhiều, tổn đến Tâm, Tỳ, Can hỏa bốc lên làm cho huyết không quy kinh thường sinh ra Đái Hạ. Cũng sách này còn ghi: Tức giận quá thì thương Can, Cam thừa khắc Tỳ Thổ, Tỳ bị thương tổn thì sinh Thấp, thấp sinh nhiệt, nhiệt tích không thông nên chất uế trọc thấm vào bàng quang rồi bài tiết ra thành Đái hạ".

Sách Phụ Nhân Quy: "Đái Hạ có khi vì do tức giận theo Can kinh mà xuống".

Do Đàm Thấp

Sách Phụ Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa: Tỳ hư thấp tụ lại thành đàm, đàm và thấp chảy dần xuống hạ tiêu gây ra Đái hạ.

Sách Nam Nữ Khoa: "Tỳ dương hư không vận hóa được tinh dịch, thấp trọc đình trệ bên trong dồn xuống 2 mạch Xung và Nhâm gây ra Đái hạ".

Tiết Kỷ trong sách Nữ Khoa Bí Yếu nhận định: "Thấp đàm chảy xuống tích trữ lại thành Đái hạ".

Do Thận Hư

Sách Phụ Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa: "Ham dâm dục làm Thận bị tổn hại, dương khí hao tổn, mạch Đái không kiềm chế được, mạch Xung, Nhâm không thu nhiếp được, tinh dịch trong bào cung tự chảy ra, thành bịnh Đái hạ".

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác:

Do Phong Hàn: Sách Sào Thị Chư Bịnh Nguyên Hậu Tổng Luận viết: "Đái hạ do lao thương quá độ, tổn động tới kinh huyết làm cho thân thể héo gầy, gặp phải Phong hàn nhập vào bào lạc chống với huyết tạo thành Đái hạ".

Do Âm Hư: Sách Phụ Khoa Ngọc Xích ghi: Chứng Bạch Đái người ốm thường bị vì âm hư.

Sách Nữ Khoa Toát Yếu ghi: "Chứng Đái Hạ hoặc do ăn uống no say quá mà giao hợp, hoặc dùng nhiều chất cao lương mỹ vị, hoặc uống thứ thuốc khô táo lâu ngày làm tổn thương âm huyết, dương khí bị nén xuống gây ra Đái hạ".

Sách Trung Y Học Khái Luận lại nêu ra 5 nguyên nhân sau:

Thấp nhiệt

Đàm thấp dồn xuống

Tinh thần bị kích thích

Phòng lao quá độ

Tỳ Thận hư yếu

Sách Châm Cứu Giản Yếu nêu ra 5 nguyên nhân:

Nhiễm khuẩn: Do thấp nhiệt, tỳ khí suy yếu

Do Can uất sinh nhiệt

Do Đàm thấp, khí hư

Do Tỳ khí dương hư, hàn thấp trì trệ

Do Thận dương hoặc Thận âm

Biện Chứng Luận Trị

TRIỆU CHỨNG

Theo sách Phụ Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa: Đái Hạ Do Tỳ Hư:

CHỨNG: Chất Đái hạ như nước mũi, không mùi, lưng và bụng không thấy trướng đau, sắc da trắng, tay chân mát, tinh thần mỏi mệt, ăn ít, đại tiện lỏng, hai bàn chân hơi phù, chất lưỡi bình thường hoặc nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Hoãn Nhược.

BIỆN CHỨNG:

Tỳ khí hư nhược không vận hóa được thức ăn uống để trở thành chất tinh vi, do đó thủy thấp bị hãm hạ xuống dưới, gây nên Đái Hạ.

Tỳ dương hư không ôn dưỡng được cơ biểu nên sắc mặt trắng nhạt, tay chân hơi mát, vì tay chân và mặt đều thuộc về Tỳ.

Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, chức năng vận chuyển bị trở ngại gây ra đại tiện lỏng và bàn chân hơi phù.

Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Hoãn Nhược là biểu hiện của Tỳ dương suy kém.

Đái Hạ Do Thận Hư:

CHỨNG: Đái Hạ trắng trong, hơi lạnh, lượng ra nhiều suốt ngày rỉ giọt không ngớt, sắc mặt hơi xám, đại tiện lỏng, tiểu nhiều, nước tiểu trong và dài, đêm đi nhiều hơn, lưng nhức mỏi như bị gẫy, bụng dưới cảm thấy hơi lạnh, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Trì, nhất là bộ Xích.

BIỆN CHỨNG

Thận dương hư sinh hàn, Mạch Đái kém chức năng ước thúc, Mạch Nhâm bị suy tổn làm cho tinh dịch chảy ra nhiều mà sắc trắng trong và lạnh.

Eo lưng thuộc Thận, Thận hư không dưỡng được cốt tủy nên lưng đau mỏi như gẫy.

Bụng dưới là chỗ ở của bào cung, có liên hệ mật thiết với Thận. Thận dương hư không làm ấm được bào cung, vì vậy, bụng dưới cảm thấy hơi lạnh.

Chất lưỡi trắng nhạt, mạch Trầm Trì là dấu hiệu của Thận dương hư.

Đái Hạ Do Thấp Nhiệt:

CHỨNG: Chất dịch chảy ra như nước vo gạo, hơi vàng xám giống như mủ hoặc lẫn sắc máu, mùi hôi, đầu xoay xẩm, nặng nề, hay mệt nhọc, tâm phiền, ít ngủ, đại tiện bón, nước tiểu đỏ, ngắn, miệng đắng, họng khô, âm hộ ngứa, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Nhu Sác.

BIỆN CHỨNG.

Do thấp độc nhập vào bào cung làm tổn thương Mạch Xung, Nhâm, thấp độc ứ đọng lâu ngày sinh nhiệt, nhiệt nhiều thì chất dơ bẩn bị dồn xuống và chảy ra như nước vo gạo hoặc giống như mủ và mùi hôi là âm đạo sưng, ngứa.

Thấp nhiệt nung đốt bên trong làm tổn hao tân dịch khiến cho đái hạ ra đặc, dính, có mùi, họng khô, miệng đắng.

Thấp nhiệt nung nấu ở hạ tiêu sinh ra đại tiện bón, nước tiểu đỏ.

Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Sác là biểu hiện thấp nhiệt chứa đọng lâu ngày hóa nhiệt gây ra.

ĐIỀU TRỊ

Tỳ Hư: Kiện Tỳ, ích khí, chỉ đới.

Dùng bài Hoàn đới thang (Nam nữ khoa): Bạch truật (sao) 15g, Thương truật 9g, Đảng sâm 9g, Bạch thược (sao rượu) 6g, Hoài sơn 15g, Xa tiền tử (sao rượu) 0,9g, Kinh giới huệ (sao đen) 1,5g, Sài hồ 1,5g, Trần bì 1,5g, Cam thảo 3g. Sắc uống ấm, xa bữa ăn.

Hoặc Phục thỏ hoàn (Chứng trị chuẩn thằng): Phục linh 90g, Thỏ ty tử 150g, Thanh liên tử 60g. Tán bột,k trộn với rượu, làm thành viên to bằng hột Ngô đồng. Mỗi lần uống 30-50 viên với nước muối nhạt, lúc đói.

Thấp Nhiệt: Thanh nhiệt, trừ thấp, chỉ đới, kèm bổ Tỳ.

Dùng bài Dịch Hoàng Thang gia giảm (Nam nữ khoa): Khiếm thực (sao, đập giập) 30g, Hoàng bá (sao muối) 6g, Hoài sơn 30g, Bạch quả (đập nát) 10 quả. Sắc uống.

Đờm Thấp: Kiện Tỳ, hóa đờm, táo thấp.

Dùng bài Lục quân tử thang gia giảm.

Can Uất: Sơ Can, giải uất, thanh nhiệt, chỉ đới.

Dùng bài Đơn chi tiêu dao tán gia giảm (Nữ khoa toát yếu): Đương quy 6g, Bạch linh 6g, Bạch truật 6g, Chích thảo 4,5g, Bạch thược 9g, Bạc hà (sao) 4,5g, Trần bì 4,5g, Bào khương 4,5g, Đơn bì 6g, Chi tử 6g.

Nhiệt nhiều: Thanh Can, tả nhiệt. Dùng bài Long đởm tả can thang.

Thận dương hư: Bổ Thận, cố nguyên khí. Dùng bài Nội bổ hoàn (Nữ khoa thiết yếu): Lộc nhung, Thỏ ty tử, Sa uyển tật lê, Tử uyển, Hoàng kỳ, Phụ tử (chế), Tang phiêu tiêu, Nhục thung dung, Bạch tật lê. Lượng bằng nhau. Tán bột, trộn mật làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với rượu, hâm ấm trước khi uống trước bữa ăn.

Thận âm hư: Tráng thủy, chế hỏa, chỉ đới. Dùng bài Tri bá bát vị hoàn gia giảm.

CHÂM CỨU

Sách Châm Cứu Đại Thành: Đái Mạch, Quan Nguyên, Khí Hải, Tam âm giao, Bạch hoàn du, Gian sử.

Sách Tư Sinh Kinh: Đái Mạch, Tiểu Trường du.

Sách Châm Cứu Học Giảng Nghĩa: Đái Mạch, Bạch hoàn du, Khí hải, Tam âm giao, Âm lăng tuyền và Hành gian.

Sách Châm Cứu Học Thượng Hải: Đái Mạch, Khí hải, Tam âm giao, Âm lăng tuyền và Hành gian.

Sách Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu: Đái Mạch, Ngũ xứ, Khí hải và Tam âm giao.

Sách Châm Cứu Học Thủ Sách: Đái Mạch, Tỳ du, Tam tiêu du, Quan nguyên (đều châm), Công Tôn và Tam âm giao (đều cứu).

Sách Châm Cứu Học Thực Hành: của Nguyễn Hữu Hách: Đái Mạch, Khí hải, Ẩn Bạch, Gian Sử, Túc tam lý, Trung cực, Âm lăng tuyền.

Sách Châm Cứu Học Việt Nam: Đái Mạch, Khí hải, Tam âm giao, Hành gian và Âm lăng tuyền.

Sách Y Học Cổ Truyền Dân Tộc: Đái Mạch, Khí hải, Tam âm giao, Hành gian và Âm lăng tuyền.

Sách L'Acupuncture Pratique của H. Voisin: Tam âm giao, Khí hải, Quan nguyên, Chương môn, Kỳ môn.

Sách L'Acupuncture à la portée de tous của D. Dervieux: Tam âm giao, Chiếu hải, Thiếu xung, Thái khê, Thái xung, Hành gian.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Bệnh Học

Về danh mục Bệnh Học