Hoạt Thạch

Tên Hán: 滑石 · Pinyin: Huá Shí · Tên khoa học: Talcum. · Bộ phận dùng: khoáng vật · Xuất xứ: Bản kinh.

Tính: Hàn · Vị: Cam, Đạm · Quy kinh: Túc Thái Dương Bàng Quang, Thủ Thái Âm Phế, Túc Dương Minh Vị

Nhóm dược lý: Lợi Niệu Thông Lâm

Công dụng

Chủ trị

Kiêng kỵ

Quy kinh (đường kinh)

Mô tả

MÔ TẢ:

Hoạt thạch là khoáng chất, để nguyên thành những hòn không đồng đều, màu trắng thứ không tinh khiết thì màu xám tro, màu lục hoặc màu vàng, hơi trong nhẹ, dễ vỡ. Thành phần chủ yếu của nó là Magie Silicat [MG(Si4 O10) (0H)2] hoặc Metasilicat Acid Magnesium [Mg3H2(SiO3)4] hoặc 3MgO,4SiO2,H2O, thường làm phấn thoa rôm, bao thuốc viên, kem đánh răng.

PHÂN BIỆT:

Ngoài vị kể trên ra, người ta còn dùng loại Nhuyễn hoạt thạch hay Cao lãnh thạch (Kaolinum), thành phấn chủ yếu là Al4(Si4O10)(OH)8 hoặc Al2O3,2SiO2,2H2O đôi khi có ít sắt, dùng công dụng như Hoạt thạch.

Tính vị quy kinh (y văn)

TÍNH VỊ:

Vị ngọt, Tính lạnh (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

QUY KINH:

Vào kinh Vị, Bàng quang (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Chủ trị (y văn)

TÁC DỤNG:

Lợi tiểu, thấp thấp, thanh thử (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

CHỦ TRỊ:

Trị phiền khát do thử nhiệt, tiêu chảy, tiểu không thông, tiểu gắt, tiểu buốt, sỏi thận hoặc bàng quang, lở loét ngoài da.

LIỀU LƯỢNG:

Uống 9g–30g, sắc uống hoặc tán bột uống sau khi sắc được thuốc. Dùng ngoài tùy ý, xức vào nơi lở láy chảy nước.

KIÊNG KỴ:

Âm hư không có thấp nhiệt cấm dùng. Tỳ hư khí nhược, hoạt tinh cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Nuôi trồng

ĐỊA LÝ:

Có nhiều ở Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, Giang Tây, Sơn Đông.

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

Thường được nghiền thành bột, bột màu trắng mịn, sờ trơn mát, tỷ trọng 2,7–2,8 không tan trong nước, khó bị acid phá hủy.

TÊN GỌI:

Chất mịn, sờ trơn láng nên gọi là Hoạt thạch.

Bào chế

BÀO CHẾ:

Khi dùng cần dùng Bạch hoạt thạch là loại trắng tinh làm thanh bột, cùng nấu với Mẫu đơn bì 1 giờ, xong bỏ Mẫu đơn bì đi mà chỉ lấy Hoạt thạch, lấy nước lọc sạch phơi khô (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

Thường nghiền thành bột, dùng sống hoặc ngâm nước, nghiền nhỏ rồi thủy phi.

BẢO QUẢN:

Cất vào lọ kín, tránh ẩm.

Đơn thuốc tham khảo

Trị àng da của phụ nữ, do lao lực quá độ, phát sốt về chiều, sợ lạnh, bụng dưới đau gấp, đại tiện lỏng đen: Hoạt thạch, Thạch cao, hai vị bằng nhau, tán bột uống 1 muỗng súp với nước Đại mạch, ngày 3 lần, tiểu tiện thông thì thôi, nếu bụng trướng lên thì khó trị (Thiên Kim Phương).

Trị có thai bí tiểu: Hoạt thạch trộn nước như bùn đắp dưới rốn 2 thốn (Ngoại Đài Bí Yếu).

Trị phiền nóng ở thượng cách, khát nước nhiều, lợi cửu khiếu: Hoạt thạch 60g, sắc 3 chén nước còn 2 chén, bỏ bã, cho gạo tấm vào nấu cháo ăn (Thánh Huệ Phương).

Trị vú sưng như đá, phiền nhiệt, bứt rứt, khát nước: Bột Hoạt thạch 15g, khuấy nước uống (Thánh Huệ Phương).

Có thai bí tiểu, dùng Hoạt thạch trộn nước như bùn đắp dưới rốn 2 thốn (Ngoại Đài Bí Yếu).

Trị lở loét khe ngón chân: Hoạt thạch 30g, Thạch cao (nung) nửa lượng, Khô phàn một ít. Tán bột bôi vào, có thể trị ẩm ướt bìu dái, cơ quan sinh dục (Thánh Huệ Phương).

Phụ nữ nín tiểu sinh ra tức bọng đái: Hoạt thạch uống 6g với nước Hành sắc (Thánh Huệ Phương).

Thương hàn chảy máu cam: Bột Hoạt thạch luyện với cơm làm viên, lớn bằng hạt Ngô đồng, mỗi lần uống 10 viên. Thang Hối Thúc ghi rằng: Chứng chảy máu cam là sở dĩ bệnh đáng phát hãn mà không dám phát hãn cho nên nó mới phát ra như thế, huyết ra ấy màu đen tím chẳng kể nhiều hay ít cứ để cho ra không nên cầm lại và nên uống thuốc ôn hòa để điều vinh vệ của nó, đợi cho tới khi ra huyết tươi mới dùng thuốc này để cầm (Bản Sự Phương).

Thổ nghịch quá không ăn uống được, dùng Sinh hoạt–thạch tán bột 6g uống với nước ấm, sau đó ăn Miến để đè lên thuốc (Bản Sự Diễn Nghĩa).

Bị đánh đập sưng đau: Hoạt thạch, Xích thạch chi, Đại hoàng, các vị bằng nhau tán bột, rửa bằng nước trà nóng, đắp thuốc lên (Kinh nghiệm phương).

Bệnh nhiệt độc kỳ lạ, có các triệu chứng mắt đỏ sưng to, suyễn, toàn thân nổi ra những nốt ban, lông tóc cứng như sắt, vì trúng nhiệt độc khí kiết ở hạ tiêu: Hoạt thạch, Bạch phàn, mỗi thứ 30g tán bột uống với nước 3 chén sắc còn phân nửa uống (Hạ Tử Ích Kỳ Tật Phương).

Khí nghẽn làm quan cách không thông, tiểu tiện lắt nhắt, tức đầy dưới rốn kèm đau: Bột Hoạt thạch 30g trộn nước uống (Quảng Lợi Phương).

Tiểu không thông: Bột Hoạt thạch 1 thăng, trộn nước cốt Xa tiền, đắp quanh rốn, khi khô thì thay (Dương Thị Sản Nhũ Phương).

Cảm nắng mồ hôi ra như tắm: Hoạt thạch (nung lửa) 30g, Lưu hoàng 12g tán bột, hồ viên với miến làm viên, to bằng hạt đậu xanh, mỗi lần dùng với nước gừng nhạt, tùy lớn nhỏ mà uống (Bạch long hoàn – Phổ Tế Phương).

Trị cảm nắng hoặc có nôn, mửa, sốt rét, tiểu đỏ, khát nước, dùng Ngọc dịch tán gồm Quế phủ, Hoạt thạch (nung) 4 lượng, Hoắc hương 3g, Đinh hương 3g tán bột, mỗi lần uống 6g với nước gạo. Bài này cũng có thể trị hoặc loạn thổ tả (Phổ Tế Phương).

Lở do phong nhiệt độc, toàn thân chảy nước vàng: dùng Quế phủ, Hoạt thạch, tán bột xức vào nhiều ngày là bớt (Phổ Tế Phương).

Chứng đậu sang nóng quá phát cuồng mê man, sờ áp lần giường, khát nước nhiều, dùng Ích nguyên tán 30g gia Châu sa thủy phi qua 6g, Băng phiến 3 phân, Xạ hương 1 phân, uống lần 2,9g với nước sắc Đăng tâm (Vương Thị Đậu Chẩn Phương).

Hoạt thạch và Cam thảo trộn lại gọi là Ích nguyên tán hay Thiên thủy tán, Lục nhất tán, Thái bạch tán giải được trúng thủ thương hàn dịch lệ, đồng thời còn di chứng nhiệt sau khi ra mồ hôi, các chứng lao phục kèm giải cảm thương hàn, các bệnh gây ra do đầy tức, bứt rứt khí đoản, bụng sình tức đau, đái rắc đau buốt, trị mình nóng, nôn mửa, ỉa chảy, kiết lỵ, trừ phiền nhiệt trong ngực tích tụ hàn nhiệt, giảm tiêu khát, nước tích trong bụng, thúc đẻ, lợi sữa, trị lở đầu vú, sưng vú, lợi răng lở. Thuốc này gọi là Lục nhất tán ý dùng 1 phần Cam thảo 6 phân Hoạt thạch, đại dưỡng khí của tỳ vị, cửu khiếu lục phủ, đuổi kết lưu thông kinh mạch, tiêu thủy cốc, an hồn định phách, rất thần nghiệm. Lưu Hà Gian trong Thương hàn trực cách ghi rằng: Bạch Hoạt thạch thủy phi 6 lượng, Phấn Cam thảo 30g tán bột, mỗi lần uống 9g sao với mật uống nóng, nếu thực nhiệt với nước sông sạch, giải lỵ thì uống với Thông xị thang, thông sữa thì dùng với nước xắt Thịt heo và Miến. Thúc đẻ thì dùng dầu mè với nước tương. Hễ sinh khó hoặc thai chết lưu ấy là do phong nhiệt táo sáp, kết trệ bó chặt lại không thư thái được. Sức thuốc này tới nơi thì cởi bỏ được kết trệ. Nếu dùng để trị lỵ, theo Lôi Công bào chế dùng Mẫu đơn bì cùng sao qua, gia Đơn sa thủy phi tán bột, cứ một lượng thuốc thì gia 3g gọi lá Thần sa lục nhất tán trị tâm kinh phục thử, kiết lỵ ra máu, phiền táo khát nước, hôn mê (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Trị thấp nhiệt hạ chú, tiểu không thông, tiểu buốt: Hoạt thạch 18g, Đông quỳ tử 12g, Xa tiền tử 12g, Thông thảo 9g. Sắc uống (Hoạt thạch tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị tiêu chảy, phát sốt mùa hè: Hoạt thạch 18g, Cam thảo 9g, Sơn dược 30g. Sắc uống. (Gia vị thiên thủy tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị thấp chẩn thấp sang ngoài da: Hoạt thạch phấn 9g, Khô phàn 3g, Hoàng bá 3g. Tán bột dùng ngoài (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị rôm sảy do nắng nóng: Hoạt thạch phấn 30g, Bạc hà 3g, Bạch chỉ 3g. Tán bột, bọc vải xát ở ngoài (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị sỏi mật: Hoạt thạch phấn 18g, Hỏa tiêu phấn 9g 5, Uất kim phấn 6g, Bạch phàn phấn 3g 6 phân, Cam thảo phấn 3g. Tán bột, lần uống 3g 5 phân, ngày 2 lần, uống liên tục 2 tuần, hoặc tới khi hết là thôi (Thực Dụng Trung Dược).

Tham khảo

Hoạt thạch có vị ngọt nhạt, tính lạnh, tính trơn hoạt thì có thể hạ giáng có công năng lợi thủy thấp, thanh nhiệt, giải thử, là thuốc thường dùng trong viêm nóng mùa hè, cũng làm thuốc phụ tá để trụ các trứng đái đỏ sẻn, tiểu ra máu, ỉa chảy, kiết lỵ vàng da do thấp nhiệt. Dùng bên ngoài đắp lên có thể trị ngứa ngoài da.

Bài thuốc có dùng vị này (322)

Thông tin tra cứu Đông Y — không tự ý dùng, hãy hỏi thầy thuốc Y Học Cổ Truyền.

Đang tải ứng dụng…