🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Bướu Cổ Châm Cứu Trị Bệnh

Bướu Cổ (Tên Khác: Anh Khí – Goitre). Bướu cổ đơn thuần là một bệnh to tuyến giáp thường do thiếu iot, hay gặp ở một số vùng nhất định (thường ở miền núi) nên còn gọi là bướu cổ địa phương, nữ mắc bệnh…

Đại Cương

Bướu cổ đơn thuần là một bệnh to tuyến giáp thường do thiếu iot, hay gặp ở một số vùng nhất định (thường ở miền núi) nên còn gọi là bướu cổ địa phương, nữ mắc bệnh nhiều. Có khi là bướu cổ tán phát. Trong một số trường hợp, bướu cổ là phản ứng của tuyến giáp đối với sự mất cân bằng của nội tiết tuyến giáp.

Bướu cổ đơn thuần thường chia làm 2 loại: địa phương tính (tập trung ở một số vùng nhiều người mắc) và tản phát tính (nơi nào cũng có người mắc, thường gặp nhiều ở lứa tuổi trưởng thành, lúc có thai, cho con bú và thời kỳ tắt kinh.

Bướu cổ đơn thuần thuộc chứng "Anh" trong y học cổ truyền. Y văn cổ Trung Quốc trên 300 năm trước công nguyên đã có ghi về bệnh này như sách Trửu hậu phương đầu tiên đã ghi dùng Hải tảo (có iốt) để trị chứng "Anh". Sách Ngoại đài bí yếu đời Đường ghi 36 bài thuốc trị chứng 'Anh" trong đó 27 bài gồm các vị thuốc có chất iốt.

Nguyên Nhân

Y học cổ truyền cho rằng bệnh ANH phát sinh là do liên quan với đất nước nơi ăn ở và tình chí (trạng thái tinh thần) thay đổi. Sách Chư bệnh nguyên hậu luận viết: "Vùng núi đất đen có nguồn nước chảy ra không thể sống lâu ở đó, ăn uống nước đó dễ mắc bệnh "anh".

Sách Ngoại đài bí yếu cũng ghi: "Người vùng Trường An... uống nước cát dễ mắc bệnh anh".

Sách Chư bệnh nguyên hậu luận ghi về tình chí có liên quan đến bệnh như sau: "Bệnh "anh" là do lo lắng nhiều, khí kết mà sinh ra"..

Bệnh lý chủ yếu là đàm thấp, khí trệ: Người bệnh có tỳ khí kém, thêm ảnh hưởng của thức ăn nước uống làm cho đàm thấp nội sinh, đàm thấp sinh nhiều càng tăng thêm khí trệ mà sinh bệnh. Hoặc do tức giận, thướng can, can khí không thông đạt, uất nên sinh đờm, đờm khí kết ở cổ mà sinh bệnh. Đàm thấp và khí trệ là hổ tương nhân quả cho nên khối u ngày càng to thêm. Cũng do can chủ sơ tiết, mà 2 mạch Xung, Nhâm liên hệ nhiều với kinh Can, do đó, phụ nữ có kinh, thai nghén cho con bú đều liên quan đến khí huyết của Can, những lúc đó dễ mắc bệnh.

Triệu Chứng

Triệu chứng chủ yếu là to tuyến giáp.

Thể tán phát gặp nhiều ở nữ ở tuổi dậy thì, có thai, cho con bú, lúc tắt kinh thường to hơn và qua những kỳ đó tuyến lại nhỏ hơn. Thường tuyến giáp to nhẹ tản mạn, chất mềm và trơn láng. Đến tuổi trung niên về sau, bướu có thể cứng và có nốt cục.

Bướu cổ địa phương tính to nhỏ không chừng (rất nhỏ hoặc rất to). Theo độ to nhỏ có thể chia:

Độ l: Nhìn kỹ có khi phải nhìn nghiêng mới phát hiện hoặc phải sờ nắn.

Độ 2: Nhìn thẳng đã thấy to.

Độ 3: Bướu quá to.

Chẩn Đoán

Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng (như trên đã mô tả).

Xét nghiệm: Chuyển hóa cơ bản bình thường, iốt - protein trong huyết tương bình thường. Tỷ suất gắn iốt phóng xạ rất tăng trong bướu giáp địa phương tính nhưng gần như bình thường trong bướu giáp tản phát.

Khi thấy bướu cứng không đau có nhân, cần cảnh giác ung thư, nên làm giáp đồ bằng phóng xạ và làm sinh thiết.

Điều Trị (Châm Cứu)

⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.

THỂ CHÂM:

Theo sách Tân biên châm cứu trị liệu học:

A- Âm Hư Hỏa Vượng:

Chẩn đoán yếu điểm: Cơ thể gầy ốm, ăn nhiều, mất ngủ, sốt về chiều, mồ hôi ra nhiều, lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế Sác.

Phép trị: Tư âm, giáng hỏa, hóa trệ, tiêu anh.

Phương huyệt: Nhu hội, Khí xá, Gian sử, Thái xung, Thái khê. Mỗi ngày hoặc cách ngày châm 1 lần, lưu kim 30 phút. 15 ngày là 1 liệu trình.

GIẢI THÍCH: Nhu hội là huyệt hội của kinh thủ Thiếu dương với mạch Dương duy, để tuyên thông khí của tam tiêu, sơ đạo ứ trệ; Phối hợp với huyệt Khí xá của kinh dương minh để tiêu ứ trệ tại vùng bướu; Gian sử thuộc kinh Tâm bào, chuyên trị hồi hộp, phiền nhiệt; Thái xung giáng can hỏa; Thái khê tư thận âm, để tư âm giáng hỏa, hóa trệ, tiêu anh.

GHI CHÚ:

Mắt lồi: thêm Thiên trụ, Phong trì.

Mất ngủ: thêm Đởm du, Tâm du.

Sốt về chiều: thêm Đại chùy, Lao cung.

Mồ hôi trộm: thêm Âm khích, Hậu khê.

Cơ thể gầy ốm: thêm Tam âm giao, Túc tam lý.

B- Khí Và Âm Đều Hư:

Phép trị: ích khí, dưỡng âm, tán kết, tiêu anh.

Phương huyệt: Hợp cốc, Thiên đỉnh, Thiên đột, Quan nguyên, Chiếu hải. Châm bổ. Mỗi ngày châm 1 lần, lưu kim 30 phút. 20 lần là 1 liệu trình.

GIẢI THÍCH: Vùng cổ liên hệ với kinh thủ, túc dương minh (Đại trường, Vị) vì vậy, dùng huyệt Thiên đỉnh, Thiên đột hợp với Hợp cốc để sơ thông kinh lạc, tán kết, tiêu anh; Quan nguyên bổ ích nguyên khí; Chiếu hải tư dưỡng thận âm, để ích khí, dưỡng âm.

GHI CHÚ:

Hồi hộp: thêm Nội quan, Thần môn.

Tiêu lỏng: thêm Thiên xu, Công tôn, Tỳ du.

Sách Châm cứu lâm chứng thực nghiệm:

1- Huyệt vị: A thị huyệt là huyệt chính. Có hai nhóm huyệt phối hợp.

Nhóm một: Thiên đột ( XIV.22), Kiên tỉnh (XI.21), Hợp cốc ( II.4).

Nhóm hai: Khí xá (III. 11), Thiên tĩnh (X. 10), Túc tam Lý (III.36).

Mỗi nhóm được sử dụng luân phiên trong mỗi liệu trình 7 ngày.

2- Tiến trình: Bệnh nhân nằm ngửa, đầu hơi ngả ra sau. Châm khối bướu từ 3 – 5 lần. Độ sâu khi châm tùy theo kích thước của khối bướu. Trong những trường hợp thông thường, có thể châm kim thẳng từ đỉnh bướu xuống đến trung tâm bướu hoặc châm kim xuyên qua tổ chức dưới da từ bờ bên này qua bờ bên kia khối bướu.

Hướng châm, độ sâu và thao tác châm được áp dụng cho các huyệt như sau:

Thiên đột: châm hướng xuống góc 45°, sâu 0,3 – 0,5 thốn, vê kim. Khí xá: châm thẳng góc, sâu 0,3 – 0,5 thốn, vê kim. Kiên tỉnh: châm thẳng góc, sâu 0,3 – 0,5 thốn, vê kim. Hợp cốc: châm thẳng góc, sâu 1 – 1,5 thốn, vê và cọ kim. Thiên tỉnh: châm hướng nghiêng góc 30° sâu 0,5 – 1 thốn, nâng, đẩy và vê kim.

Lưu kim 30 – 60 phút, 10 – 20 phút kích thích 1 lần. 10 ngày là một liệu trình, nghỉ hai ngày lại tiếp tục.

2. NHĨ CHÂM:

Nội tiết, Dưới vỏ não, Tuyến giáp. Phương pháp châm: dùng hào châm hoặc nhĩ hoàn gài kim, mỗi lần chọn 2 – 3 huyệt. Dùng hào châm châm cách nhật, 30 lần châm là một liệu trình. Gài nhĩ hoàn thì 3 ngày liên tục dặn bệnh nhân tự ấn huyệt ngày 3 lần, sau khi lấy kim, thay kim gài huyệt khác, 10 lần gài kim là một liệu trình.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Châm Cứu Trị Bệnh

Về danh mục Châm Cứu Trị Bệnh