🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Kiết Lỵ Châm Cứu Trị Bệnh

Kiết Lỵ (Tên Khác: Lỵ tật – Dysenterie – Dysentery.). Lỵ là một bệnh do vi trùng Entamoeba dysenteria gây ra, làm cho công năng vận hóa của Tỳ Vị bị rối loạn gây ra bệnh. Bệnh xảy ra nhiều vào mùa hè – thu.

Đại Cương

Lỵ là một bệnh do vi trùng Entamoeba dysenteria gây ra, làm cho công năng vận hóa của Tỳ Vị bị rối loạn gây ra bệnh.

Bệnh xảy ra nhiều vào mùa hè – thu.

Nguyên Nhân

a. Thấp nhiệt: Lúc giao tiếp giữa mùa hè và thu, nhiệt tà bị uất, thấp khí bị ứ trệ cùng với nhiệt độc kết hợp với nhau hóa thành máu và mũi, gây ra Lỵ.

Thấp nhiều gọi là Bạch Lỵ.

Nhiệt nhiều gọi là Xích Lỵ.

b. Ăn uống không điều độ hoặc thức ăn không sạch, ăn nhiều thức ăn béo (cao lương mỹ vị) làm hại Tỳ Vị, Tỳ Vị hư không thắng nổi thấp làm cho thấp ủng trệ bên trong nung đốt tạng phủ, khí huyết ngưng trệ sinh ra máu và mũi.

Người hay ăn các thức ăn sống, lạnh, hàn thấp tích trệ ở trong kèm theo ăn uống không cẩn thận, hàn thấp làm tổn thương (hại) Tỳ Vị, khí của Đại Trường bị trở ngại làm tổn hại đến doanh (dinh) huyết sinh ra chứng hàn thấp lỵ.

c. Cảm thụ phải thời hành dịch khí, ủng trệ ở trường vị, hợp với khí huyết hóa ra mũi, máu, thành bệnh dịch độc lỵ.

Triệu Chứng

Thấp nhiệt lỵ: Bụng đau quặn, tiêu ra máu lẫn nhầy mũi, mót rặn liên tục, hậu môn nóng rát, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, mạch Hoạt Sác thường gặp ở lỵ amip. Phân có máu và mũi vì vậy gọi là xích bạch lỵ.

2. Lỵ thể hàn thấp: Ỉa phân mũi nhiều hơn máu, hoặc toàn ra mũi, thỉnh thoảng bụng đau, mót rặn, sợ lạnh, mệt mỏi, không muốn ăn uống, mạch Hoãn hoặc Nhu Hoãn. Thường gặp ở lỵ amip bán cấp, gọi là bạch lỵ.

3. Lỵ do dịch độc: Bệnh phát nhanh, sốt cao, khát, đầu đau, bụng đau dữ dội, mót rặn nhiều, ỉa ra máu tươi hoặc giống máu cá, nhiều táo, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch Sác hoặc Hoạt Sác. Thường gặp ở lỵ trực khuẩn, thường xuất hiện thành dịch và gây ra triệu chứng nhiễm độc toàn thân.

4. Hưu tức lỵ: Bệnh lúc phát lúc khỏi, lâu ngày không dứt, mệt mỏi, sợ lạnh, muốn nằm. Khi ỉa bụng đau quặn, đại tiện ra máu mũi dẻo, dính, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi nhờn, mạch Tế, mạch Hoạt vô lực.

5. Cấm khẩu lỵ: Không ăn uống được, đi lỵ, muốn ói, ói mửa nặng thì gầy ốm đi, tinh thần mê mệt, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch nhu sác.

Điều Trị (Châm Cứu)

⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.

Cứu Giáp tích huyệt 1 tráng (Tư sinh kinh).

2. Hợp cốc, Tam lý, có thể thêm Trung lữ du (Tạp bệnh huyệt pháp ca).

3. Xích lỵ: Nội đình, Ẩn bạch, Khí hải, Chiếu hải, Nội quan. Bạch lỵ: Ngoại quan, Trung quản, Ẩn bạch, Thiên xu, Thân mạch (Châm cứu đại thành).

4. Xích bạch lỵ: Trường cường, Mệnh môn. Trước nhẹ sau nặng: Hạ quản, Thiên xu, Chiếu hải. Cửu lỵ: Trung quản, Tỳ du, Thiên xu, Tam tiêu du, Đại trường du, Túc tam lý, Tam âm giao, đều cứu (Thần cứu kinh luân).

5. Chọn huyệt ở kinh thủ và túc Dương minh làm chính. Châm tả. Thiên về hàn thì cứu. Lỵ lâu ngày thêm Tỳ và Thận.

Huyệt chính: Hợp cốc, Thiên xu, Thượng cự hư.

Thấp nhiệt thêm Khúc trì, Nội đình; Hàn thấp thêm Trung quản, Khí hải; Cấm khẩu thêm Trung quản, Nội đình, Nội quan; Hưu tức lỵ thêm Tỳ du, Vị du, Quan nguyên, Thận du.

(Hợp cốc là nguyên huyệt của kinh Đại trường, Thiên xu là mộ huyệt của kinh Đại trường, Thượng cự hư là huyệt Hợp ở dưới của kinh Đại trường. Bệnh lỵ chủ yếu là bệnh ở Đại trường, vì vậy dùng 3 huyệt đó để thông điều khí ở Đại trường, làm cho khí được điều hòa, thấp được hóa, trệ được hành. Khúc trì, Nội đình để thanh nhiệt ở trường vị; Trung quản hòa vị khí, hóa thấp, giáng trọc; Khí hải điều khí để hành trệ, cứu có thể ôn thông tán hàn. Nội quan là biệt lạc của thủ Quyết âm, thông giáng nghịch khí của Tam tiêu. Tỳ du, Vị du điều bổ trung khí, bổ sung cho nguồn sinh hóa. Quan nguyên, Thận du bồi bổ nguyên khí tạng Thận làm cho chính khí vượng thịnh thì trệ tự hóa (Châm cứu học giảng nghĩa).

6. Sách Châm cứu học Thượng Hải: Thanh lợi thấp nhiệt, sơ điều trường Vị.

Châm Thượng cự hư (hoặc Túc tam lý), Thiên xu.

Nôn mửa thêm Nội quan; Lý cấp hậu trọng thêm Quan nguyên; Đi cầu nhiều lần thêm Chỉ tả huyệt; Sốt thêm Khúc trì. Châm kích thích mạnh, không lưu kim hoặc lưu kim 30 phút, thỉnh thoảng vê kim. Mỗi ngày châm 1–3 lần. Bệnh giảm thì châm cách ngày, cho đến khi khỏi.

(Thượng cự hư là huyệt hợp của Đại trường ở bên dưới, trị bệnh ở ruột; Thiên xu là mộ huyệt của Đại trường, hai huyệt phối hợp có tác dụng thông lợi thấp nhiệt ở trường vị. Nôn mửa thêm Nội quan để điều hòa Vị; Trước nhẹ sau nặng thêm Quan nguyên là mộ huyệt của Tiểu trường để trừ ứ trệ; Sốt thêm Khúc trì để sơ tiết nhiệt; Chỉ tả huyệt là huyệt đặc hiệu để trị tiêu nhiều lần).

Cứu: thường dùng trong lỵ mạn tính. Cứu Tề trung, trung quản, Thiên xu, Tỳ du, Thận du (Châm cứu học Thượng Hải).

7. Thanh nhiệt, hóa thấp, điều khí, hòa huyết.

Châm tả Hợp cốc, Thiên khu, Thượng cự hư.

(Hợp cốc là nguyên huyệt của kinh Đại trường, Thiên xu là mộ huyệt của kinh Đại trường, Thượng cự hư là huyệt hợp của Đại trường ở phía dưới. Phối hợp 3 huyệt này có tác dụng thông điều khí huyết ở Đại trường).

Gia giảm: Dịch độc lỵ thêm Thập tuyên, Đại chùy, châm ra máu để tiết nhiệt, giải độc. Hàn thấp lỵ: thêm Âm lăng tuyền, Khí hải, châm bình bổ bình tả để ích khí, hóa thấp. Cấm khẩu lỵ thêm tả Trung quản, bổ Nội quan để hòa Vị, chỉ ẩu. Hưu tức lỵ, dương hư thêm bổ Thận du, Tỳ du để ôn bổ Tỳ Thận; Âm hư thêm Chiếu hải, bình bổ bình tả để tư âm, dưỡng huyết (Tân biên Trung y học khái yếu).

8. Trị lỵ mạn tính: Quan nguyên, Khí hải, Tỳ du, Thận du, Đại trường du, Tam âm giao, Túc tam lý. Mỗi ngày dùng 2–3 huyệt, cứu 10–15 phút (Tân biên trung y học khái yếu).

TÚC CHÂM:

Thường dùng huyệt số 8 và số 5 (Châm cứu học Thượng Hải).

NHĨ CHÂM:

Đại trường, Tiểu trường, Dưới vỏ, Giao cảm, Thần môn. Mỗi ngày châm 1–2 lần, kích thích mạnh, lưu kim 15–20 phút (Châm cứu học Thượng Hải).

Đại trường, Tiểu trường, Trực trường hạ đoạn, Thần môn, Nội tiết, Sau đầu (Châm cứu học HongKong).

Đại trường, Tiểu trường, Trực trường hạ đoạn, Thần môn, Nội tiết, Chẩm (Châm cứu nhĩ châm liệu pháp).

Chọn huyệt Đại trường, Tiểu trường, Trực trường hạ đoạn, Thần môn, Tỳ, Thận, Vị. Mỗi lần chọn 3–5 huyệt. Châm kích thích mạnh, ngày 1–2 lần. Lưu kim 20–30 phút (Tân biên Trung y học khái yếu).)

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Châm Cứu Trị Bệnh

Về danh mục Châm Cứu Trị Bệnh