🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Lao Hạch Châm Cứu Trị Bệnh

Lao Hạch (Tên Khác: Cảnh Lâm Ba Kết Hạch – Lâm Ba Tuyến Kết Hạch – Tràng Nhạc – Loa Lịch – Lymphadénie Tuberculoise – Lymphadenitis Tuberculosis.).

Đại Cương

Lao hạch là một loại bệnh do độc khí (khuẩn lao) xâm nhập và kết lại ở các hạch bạch huyết ở cổ.

Nguyên Nhân

Do vi khuẩn lao xâm nhập vào hạch bạch huyết ở cổ.

Do Can khí uất kết, khí uất hóa thành hỏa nung nấu dịch thành đờm làm cho kinh lạc bị ngưng trệ gây ra bệnh.

Do Phế, Thận suy tổn, hư hỏa bên trong bùng lên, tân dịch ở Phế không được tuấn bổ, làm cho đờm hỏa ngưng kết gây ra bệnh.

Triệu Chứng

Cổ có một hoặc nhiều cục cứng, không nóng lạnh hoặc khó chịu gì cả, sắc da bình thường. Nếu sức đề kháng của người bệnh quá thấp, hạch bạch huyết có thể lớn dần lên, mọc dài từ sau cổ lan đến trước cổ giống như cái dây nhạc thường đeo ở cổ con ngựa (vì vậy gọi là Tràng Nhạc). Hạch nổi to, ấn đau, rồi có thể hóa mủ, vỡ ra, tạo thành vết sẹo khó lành miệng.

Điều Trị (Châm Cứu)

⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.

Dùng tỏi, cắt bỏ 2 đầu, khoét lỗ giữa, vò ngải nhung to bằng lỗ tỏi đã khoét, đặt ngải nhung vào, đặt trên hạch. Cứu mỗi chỗ 7 tráng. Mỗi miếng tỏi dùng để cứu 3 chỗ. Cứu mỗi ngày cho đến khi hạch xẹp thì thôi (Thiên kim phương).

2. Chương Môn, Lâm Khấp, Chi câu, Dương Phụ, mỗi huyệt cứu 100 tráng, Kiên tỉnh cứu số tráng tùy theo tuổi (mỗi tuổi cứu 1 tráng). Ôn cứu 4 chung quanh hạch, mỗi chỗ 7 tráng (Tư sinh kinh).

3. Đo từ giữa bàn tay đến cùi chỏ tay làm chuẩn, đem khúc dây đo đó đo từ đầu xương cụt sau lưng, theo xương sống, ghi dấu lấy. Đo từ mép miệng bệnh nhân bên này sang bên kia thành một khẩu thốn, lấy khẩu thốn đó đặt trên chỗ đã đánh dấu ở giữa lưng bệnh nhân cho thật cân thì hai đầu đoạn dây đó thành hai huyệt. Cộng tất cả trước sau là ba huyệt. Trước hết cứu huyệt ở giữa một tráng, rồi đến hai bên, mỗi huyệt cứu một tráng. Cứu như vậy trong 1/2 tháng hoặc 20 ngày là khỏi.

Nếu sau 1/2 tháng chưa khỏi hẳn thì cứu thêm vài ba lần nữa cho khỏi. Khi trị bệnh, cấm ăn các vật sống (Châm cứu đại thành).

4. Kiên tỉnh, Khúc trì, Thiên Tĩnh, Tam dương lạc, Âm lăng tuyền (Châm cứu đại thành).+ Kiên tỉnh, Khúc trì, Đại nghênh (Châm cứu tụ anh).

5. Cứu Kiên ngung 7 – 9 tráng, Khúc trì, Thiên trì, Thiên tỉnh, mỗi huyệt 27 tráng, Tam gian 37 tráng (Loại kinh đồ dực).

6. Thiếu hải, Thiên tỉnh (Ngọc long ca).

7. Dùng bàn tay bệnh nhân gồm 4 ngón (trừ ngón cái), để trên xương bàn tọa, trên chính giữa bàn tay là huyệt. Cứu 10 tráng trở lên, khi cứu có cảm giác hơi nóng chạy vào bụng, từ bụng chạy ra chân tay, khớp xương, toàn thân nghe khoan khoái khác thường. Nhẹ thì cứu một lần là khỏi. Nặng thì cách 1/2 tháng lại cứu lại, cứu đến khi khỏi. Cứu 3–4 lần cũng được (Cách này trị chứng hạch đã vờ hoặc chưa vỡ. Hạch đã vỡ rồi phải cứu nhiều lần) (Ngọc Long kinh).

8. Cứu ngải huyệt Trửu tiêm bên không bệnh (nếu cả hai bên có hạch thì cứu cả hai huyệt), ngày một lần, da đỏ ửng là được (Thần cứu kinh luân).

9. Kiên tiêm (Kiên ngung), Trửu tiêm, Nhân nghênh đều 7 tráng, Kiên ngoại du 27 tráng, Thiên tỉnh 27 tráng, Kỵ trúc mã 37 tráng (Châm cứu yếu lãm).

10. Cứu Kiên ngung, Khúc trì (Cảnh Nhạc toàn thư).

11. Ôn dương, thông kết. Dùng huyệt Bá lao, Thiên tỉnh, Trửu liêu. Cục bộ chỗ có hạch. Mỗi huyệt cứu 5 – 7 tráng. Dùng bấc đèn (tâm bấc) cứu trực tiếp hoặc cứu cách tỏi (Châm cứu học Thượng Hải).

12. Thực chứng: Thiên tỉnh, Chi câu, Ế phong, Túc Lâm khấp, Phong long, đều tả.

Hư chứng: Bá lao, Thiên tỉnh, Dương phụ [đều cứu], Thái xung, Khâu khư [đều tả], Tỳ du, Thận du [đều bổ] (Châm cứu trị liệu học).

13. Nhóm 1: Cứu trực tiếp huyệt Trửu tiêm hoặc cứu cho ửng đỏ huyệt Bá Lao.

Nhóm 2: Châm Kiên tỉnh, Xích trạch.

Nhóm 3: Thủ tam lý, Thủ Ngũ lý, Thiếu hải, Khúc trì, Phong môn, Thân trụ, Tâm du, Kiên tỉnh, Túc tam lý, Thiên tỉnh, Dương phụ, Liệt khuyết (Lâm sàng đa khoa tổng hợp trị liệu học).

14. Thủ Kim môn (Châm cứu học Hong Kong).

15. Chích lể các huyệt Cách du, Can du, Đốc du, Đởm du, Phế du, Quyết âm du, Tâm du (Giang Tô Trung Y tạp chí số 42/1985).

16. Cứu Bá lao, Trửu tiêm, Đại trử hoặc chỉ cứu 2 huyệt Hạ ủy. (Cứu bằng mồi ngải gồm Ngải nhung 3,2g, Lưu hoàng và Hùng hoàng đều 1,2g, Xạ hương 0,2g). Kết quả 92,3%.

17. Châm Kiên tỉnh, Ế phong, Thiên tỉnh, Khúc trì. Cứu sáp hoặc cứu ngải ôn hòa ngay trên các hạch 3–5 tráng.

18. Lấy huyệt: Huyệt A Thị (ở chính giữa hạch nổi).

Cách châm: Trước hết dùng kim hào 2 tấc châm vào giữa hạch, rồi lấy một lát gừng tươi mỏng, khoét một lỗ ở giữa tròng vào đầu kim. Lại lấy 1 đoạn ngải nhung to bằng quả ngân hạnh đặt lên quanh miếng gừng, châm lửa đốt ngải. Cứu xong, quanh tràng nhạc nổi quầng đỏ, ở giữa phồng dộp nước (chọc vào thì nước trong chảy ra), lấy cao dán dán lên. Cách 4 ngày châm 1 lần.

19. Lấy huyệt: Huyệt A Thị (chỗ hạch bạch huyết). Cách châm: Dùng cồn iốt, cồn tinh chế sát trùng, dùng Chloroprocain gây tê cục bộ tại chỗ. Tay trái giữ cố định hạch bạch huyết sưng to, dùng kim không gỉ đốt trên lửa cho đỏ rồi chọc thẳng nhanh vào hạch, để kim nửa phút rồi rút ra. Bên ngoài dùng băng gạc vô trùng băng lại. Khi châm chớ chọc quá sâu, chỉ châm đến vùng trung tâm của hạch là được. Nếu hạch sưng to dính kết thành chuỗi có thể châm đốt cả bốn xung quanh. Các điểm châm khi chọc kim nóng đỏ phải thay đổi mà tiến hành. Thời gian châm đốt: nếu người bệnh có phản ứng phát sốt có thể cách 7 ngày châm 1 lần, nếu không bị phản ứng có thể 2 – 4 ngày châm một lần (Trung hoa châm cứu bí truyền).

20. Châm Khúc trì thấu Tí Nhu.

Cách châm: Dùng kim vàng 6 tấc châm từ Khúc trì hướng lên Tí Nhu, đau bên này châm huyệt bên kia (đau phải châm trái, đau trái châm phải) hoặc châm cả hai bên cùng lúc. Trước khi châm phải bôi vào mũi kim một ít Glycérin cho kim trơn, sau đó để bệnh nhân ngồi gập hai bàn tay trước ngực, khuỷu tay nâng ngang tầm vai. Thầy thuốc dùng ngón cái tay trái cắt ngang huyệt Khúc trì để bắt khí tán đi, sau đó dùng cồn sát trùng, tay phải cầm kim ngay ngắn mau lẹ châm vào dưới da, vẫn tay trái đè huyệt nâng mũi kim lên châm thẳng tới huyệt Tí nhu (châm luồn dưới da theo khoảng trống dưới da tới huyệt Tý nhu). Dùng thủ pháp hành kim vê kim bổ tả. Khi châm Khúc trì bên trái, ngón cái hướng ra sau, ngón trỏ ra trước để bổ, ngón cái ra trước, ngón trỏ ra sau, là tả. Khi châm Khúc trì bên phải, ngón cái ra trước, ngón trỏ ra sau là bổ, ngón cái ra sau, ngón trỏ ra trước là tả. Sau đó lại dùng ngón cái ngón trỏ nắm lấy cán kim lại vê xoay cho đến khi vê không động nữa thì thôi. Cách ngày châm một lần, 12 lần là một đợt điều trị (Trung hoa châm cứu bí truyền).

21. Dùng Loa Lịch Huyệt.

Thao tác: Cách lấy huyệt. Lấy đầu ngón giữa của tay phải (hay trái) của người bệnh (tức là huyệt Trung xung) lên đến huyệt Khúc trì ở nếp gấp khuỷu tay làm tiêu chuẩn cho độ dài. Bảo bệnh nhân nằm sấp, đặt dây vào chót xương cụt (huyệt Trường cường của người bệnh) làm chuẩn, đo dọc theo chính giữa xương sống lên đến điểm cuối dây thì đánh dấu. Lại đo độ rộng của miệng người bệnh, ngang dọc trở lên thành hình chữ T, đặt vào điểm đã đánh dấu, 2 điểm ngang của hình chữ T chính là huyệt Loa Lịch (tương đương với huyệt Cách du. Người bệnh nằm sấp, trước khi cứu thì bôi một ít vaselin hay dầu mè (dầu dừa...) lên huyệt, sau đó đặt viên ngải nhung to bằng hạt đậu tương lên huyệt, châm lửa đốt cho đến khi không thấy khói bốc lên là được. Cứu một lần, sau 2 tháng có thể cứu lại lần nữa (Trung hoa châm cứu bí truyền).

CHÚ Ý TRONG THỜI GIAN MẮC BỆNH:

Tập dưỡng sinh, giữ tinh thần thanh thản, làm việc nghỉ ngơi điều độ, ăn đủ chất dinh dưỡng.

Phát hiện bệnh lao phổi kịp thời và trị tích cực.

Hạn chế quan hệ tình dục.

Điều trị cần kiên nhẫn uống thuốc đúng liều lượng và thời gian quy định để tránh tái phát.

Không được châm trực tiếp chỗ hạch đang phá miệng.

Châm cứu có hiệu quả đối với bệnh Lao hạch nhưng khi hạch đã vỡ mủ, phải phối hợp dùng thêm thuốc và cách trị ngoại khoa.

NHĨ CHÂM

Phế, Ngực, Thượng thận, Nội tiết (Châm cứu học Thượng Hải).

Phế, Ngực, Thượng thận, Nội tiết, Vỏ não, Tam tiêu (Châm cứu HongKong).

Phổi, Ngực, Tuyến thượng thận, Nội tiết, Dưới vỏ não (Châm cứu nhĩ châm liệu pháp).

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Châm Cứu Trị Bệnh

Về danh mục Châm Cứu Trị Bệnh