🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Suy Tim Châm Cứu Trị Bệnh

Suy Tim (Tên Khác: Insufisance cardiaque - Congestive heart failure – Tâm Lực Suy Kiệt). Suy tim là trạng thái bệnh lý của tim không đủ khả năng cung cấp đủ máu để đáp ứng yêu cầu đủ oxy cho sự hoạt động của cơ thể.

Đại Cương

Suy tim là trạng thái bệnh lý của tim không đủ khả năng cung cấp đủ máu để đáp ứng yêu cầu đủ oxy cho sự hoạt động của cơ thể.

Suy tim là giai đoạn cuối của bệnh tim và là biến chứng của nhiều loại bệnh khác ngoài tim.

Tỷ lệ suy tim tăng ở người cao tuổi, 80% những người suy tim có tuổi từ 60 trở lên. Tuổi càng cao, số người mắc bệnh càng nhiều. Ở tuổi 45 – 54, tỷ lệ nơi nam giới suy tim là 1,8/1000, ở lứa tuổi 55 – 64 tỷ lệ ấy là 4/1000, tuổi 65–74 là 8,2/1000. Trung bình cứ sau 10 năm tuổi thì tỷ lệ suy tim tăng gần gấp đôi (Kannel W.B., công trình Framingham theo dõi 20 năm).

Suy tim tuy nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đều dẫn đến 2 hậu quả chính là:

1. Lưu lượng máu của tim kém: Tức là số lượng máu do tim bơm ra cung cấp cho các cơ quan ngoại biên trong một phút giảm đi. Bình thường lưu lượng máu của tim là 5 lít ở người trưởng thành, nay chỉ còn khoảng 2–3 lít.

2. Áp lực tĩnh mạch ngoại biên và áp lực nhĩ tăng.

Hậu quả đó ảnh hưởng lớn đến các nội tạng chính như :

Thận: Máu qua thận ít, bệnh nhân tiểu ít.

Gan: Máu ứ đọng ở gan (gan to ra, tĩnh mạch cổ nổi).

Phổi: Máu, ứ đọng ở tiểu tuần hoàn gây nên khó thở.

Tim: Máu vào các động mạch vành ít đi, tim thiếu máu, cơ tim thiếu oxy, tim to ra, suy tim nặng.

Suy tim thường chia 8 loại nhưng có liên quan ảnh hưởng với nhau: suy tim phải, suy tim trái và suy tim.

Nếu được phát hiện sớm, suy tim có thể trị khỏi và phòng được.

Y văn cổ truyền không có chứng suy tim nhưng theo triệu chứng lâm sàng, bệnh thuộc phạm trù các chứng Tâm Quí, Chinh Xung, Khái Suyễn, Đàm Ẩm, Thủy Thủng, Ứ Huyết, Tâm Tý, và cách chữa trị thường có thể tham khảo cách chữa của các bệnh này.

Nguyên Nhân

Nguyên nhân và cơ chế bệnh có thể phân tích lý giải như sau:

1. Khí Huyết Hư: tâm quí (lo sợ) là triệu chứng thường thấy trong bệnh suy tim hoặc do chính khí suy, ngoại tà xâm nhập, do dương khí suy không ôn dưỡng tâm mạch, tâm dương bất túc sinh ra tâm quí. Do dương hư không chế được thủy, thủy khí thượng nghịch sinh ra hồi hộp, hoặc bệnh lâu ngày, tâm huyết bất túc, tâm không được nuôi dưỡng đủ hoặc thận dương hư tổn, âm hư hỏa vượng, tâm hỏa bốc lên cũng sinh chứng tâm quí.

2. Bệnh Tâm Phạm Phế: Khó thở (khí suyễn) là chứng thường gặp trong bệnh suy tim. Bệnh nhẹ thì sau khi lao động mệt mới khó thở, nặng thì ngồi cũng khó thở, kèm ho, đờm nhiều bọt màu hồng. Thiên Khái Luận (Tố Vấn 38) viết: "Triệu chứng tâm khái là ho kèm đau ở mỏm ức (tâm thống)".

Ho suyễn cần phân biệt hư thực hoặc bản hư tiêu thực Sách Cảnh Nhạc Toàn Thư viết: "Thực suyễn hơi thở dài có dư, hư suyễn hơi thở ngắn không liên tục", rất có ý nghĩa trong điều trị. Khó thở trong suy tim hầu hết là hư thực lẫn lộn, tâm phế thận cùng mắc bệnh.

3. Huyết Ứ: Tâm chủ huyết, tâm suy thì tâm khí suy, huyết vận hành kém nên sinh ra huyết ứ, xuất hiện các triệu chứng: Mặt, lưỡi, môi và cả móng chân tay tím bầm.

4. Phù thũng: Trong suy tim, phù thường xuất hiện từ từ, phù lõm bắt đầu từ bàn chân, nằm gác chân cao thì phù giảm nhẹ, đi nhiều phù tăng, thuộc âm thủy, do sự suy giảm chức năng của các tạng tâm, tỳ, phế, thận.Hoả thống là một trong những rối loạn giao cảm củ thương tổn dây thần kinh ngoại biên (dây thần kinh trụ, giữa và quay).

Đông y xếp vào loại Thống Phong.

Triệu Chứng

Trong điều trị theo biện chứng thường phân các thể bệnh sau:

1. Tâm Dương Hư: Chân tay lạnh, tim đập hồi hộp, lúc gặp lạnh hoặc hoạt động nhẹ khó thở tăng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Tế Sác hoặc Kết, Đại.

2. Tâm Tỳ Dương Hư: Hồi hộp, khó thở, làm việc nhẹ khó thở tăng, chán ăn, bụng đầy, buồn nôn hoặc nôn, chân phù, rêu lười dày nhớt, mạch nhỏ, Sác, Kết, Đại.

3. Tâm Thận Dương Hư: Hồi hộp, khó thở, chân tay lạnh, sợ lạnh, tiểu ít, chân phù, mặt phù, tinh thần mệt mỏi, môi lưỡi xanh tím, rêu trắng, mạch Trầm Tế Nhược hoặc Kết Đại.

4. Khí Âm Lưỡng Hư: Hồi hộp, khó thở, mệt mỏi, váng đầu, hoa mắt, miệng khô, họng khô, mất ngủ, mồ hôi trộm, lòng bàn chân tay nóng, lưỡi thon đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác.

5. Khí hư huyết ứ: Hồi hộp, ho, khó thở, ngực sườn đau tức, bụng đầy, 2 má đỏ, môi lưỡi tím đen, phù, tiểu ít, chất lưỡi tím thâm, mạch Sáp hoặc Huyền, Kết.

6. Đờm Ẩm Bế Phế: Hồi hộp, ngắn hơi, ho khó thở, ho khạc nhiều đờm trắng có bọt, bụng đầy, ăn ít, phù, tiểu ít, thân lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng dày hoặc vàng nhớt, mạch Hoạt, Sác.

7. Dương khí hư thoát: Hồi hộp, khó thở, bệnh nhân ngồi thở dốc, khó chịu, bứt rứt, sắc mặt xanh xám, chân tay lạnh toát, mồ hôi, bệnh nặng thì hôn mê, nói sảng, chất lưỡi tím, mạch Trầm Tế, muốn tuyệt (khó bắt).=~ĐĐ ¾

Điều Trị (Châm Cứu)

⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.

Châm huyệt Cường tâm thuật (tức Đại lăng, Nội quan, Gian sử và Khích môn). Châm xiên luồn kim từ huyệt Đại lăng đến Nội quan, từ huyệt Gian sử đến Khích môn (Châm cứu kinh ngoại kỳ huyệt đồ phổ).

Châm Kiện lý tam huyệt (Lòng bàn tay, chính giữa khe xương bàn tay thứ 3-4 đo thẳng ra phía sau 1 thốn là một huyệt, từ đó lại đo ra hai bên mỗi bên một huyệt nữa, tất cả là ba huyệt) (Châm cứu du huyệt đồ phổ).

Châm Thốn bình sâu 0,3-0,5 thốn, kích thích vừa, lưu kim 20 phút, cứ 5 phút vê kim một lần (Châm cứu khổng huyệt cập kỳ liệu pháp tiện lãm).

Hồi dương ích chí, khứ tà. Châm huyệt Nội quan, Gian sử, Tâm du, Thần môn, Túc tam lý. Mỗi ngày châm một lần, khi đắc khí, lưu kim 20 phút. 10 ngày là một liệu trình.

Khí suy yếu: thêm Chiên trung, Phế du, Thiên đột. Bụng đầy thêm Túc tam lý, Trung quản. Tiểu ít thêm Thận du, Tam âm giao. Tâm phiền, mất ngủ thêm An miên. Gan sưng to thêm Thái xung, Chương môn, Can du. Đờm nhiều thêm Phong long. Ho ra máu thêm Khổng tối, Xích trạch (Bị cấp châm cứu).

Nội quan, Gian sử, Thiếu phủ — Nội quan, Khích môn, Khúc trạch.

(Phụ: Bổ trung ích khí: Trung quản, Thiên khu, Khí hải, Túc tam lý. Bổ ích chân nguyên, Vận hành hạ tiêu: Quan nguyên, Qui lai, Khí hải. Thông dương lợi thuỷ: Thuỷ phân, Trung cực thấu Khúc cốt, Thuỷ đạo, Phục lưu, Thuỷ tuyền, Phi dương, Âm lăng tuyền — Hành ứ (trị gan lớn): Thái xung, Chương môn, Can du — Bình suyễn giáng nghịch, khử đàm, trấn ho: Phế du, Thiên đột, Du phủ, Chiên trung, Thiếu phủ, Hợp cốc). Tuỳ bệnh tình, chia từng nhóm huyệt để trị (Châm cứu học thủ sách).

NHĨ CHÂM

Chọn huyệt Tâm, Thận, Tỳ, Thần môn, Phế, Giao cảm. Dán thuốc vào hai bên tai, Cách ngày dán một lần. 10 lần là một liệu trình (Bị cấp châm cứu).

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Châm Cứu Trị Bệnh

Về danh mục Châm Cứu Trị Bệnh