🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Tăng Năng Tuyến Giáp - Bazedow Châm Cứu Trị Bệnh

Tăng Năng Tuyến Giáp - Bazedow (Tên Khác: Cường Giáp – Giáp Kháng – Giáp Trạng Tuyến Cơ Năng Kháng Năng Chứng – Giáp Trạng Tuyến Cơ Năng Cang Tiến Chứng – Bướu Cổ Lồi Mắt – Hyperthyroidie, Maladie de Basedow.).

Đại Cương

Là một bệnh Cường giáp là một bệnh rối loạn nội tiết thường gặp, gây ra do sự mất điều chỉnh giữa hai tuyến nội tiết: Tuyến yên và Tuyến giáp trạng. Bệnh do yếu tố phản ứng tự miễn của cơ thể gây nên sự tăng tiết của tế bào tuyến giáp mà sinh bệnh.

Bình thường tuyến giáp bài tiết ra Thyroxin dưới sự kích thích của tuyến yên. Thyroxin là do Iod kết hợp với Globulin có vai trò quan trọng trong việc phát dục và chuyển hoá chung.

Bệnh cường tuyến giáp là bệnh cường chức năng đó, tuyến giáp trạng to lên toàn bộ, có một hạt bướu ác tính khu trú hoặc bệnh phát triển trên một bướu cổ cũ.

Đa số kèm theo to tuyến giáp, một số ít phát bệnh sau một chấn thương tinh thần mạnh, nhất là tuổi trung niên từ 30 đến 45 tuổi, nữ mắc bệnh nhiều hơn nam, tỷ lệ mắc bệnh nam: nữ là 1:4. Bệnh nhân thường tính tình dễ nóng nảy, hồi hộp, nhiều mồ hôi, dễ đói, người gầy sụt cân, ngón tay run giật, tuyến giáp to, mắt lồi...

Thường gặp nhất là Tuyến giáp viêm mạn kèm cường giáp (bệnh Grave).

Bệnh cường giáp có liên hệ với chứng Can Hỏa, Anh Lựu của Đông y.

Nguyên Nhân

THEO YHHĐ:

Có một số yếu tố thuận lợi dẫn đến tăng năng tuyến giáp như sau:

Cường nội tiết sinh dục nữ (tăng Folliculine).

Trạng thái thần kinh (Cơ địa).

Chấn thương tinh thần (Stress).

Yếu tố gia đình.

Các bệnh nhiễm khuẩn (tuyến giáp viêm, thương hàn, cúm...).

Nhiễm độc Thuỷ ngân, tinh chất tuyến giáp...

THEO YHCT:

Có liên quan đến sự rối loạn tình chí.

Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận, mục Anh Lựu viết: "Chứng anh là do lo buồn khí kết sinh ra".

Sách Ngoại Khoa Chính Tông viết: "Chứng Anh Lựu phát sinh không phải âm dương chính khí kết thủng thì cũng là do ngũ tạng ứ huyết, trọc khí đàm trệ mà sinh ra".

Như vậy, nguyên chủ yếu của bệnh là do khí uất, đàm kết, huyết ứ, hoả uất, âm hư gây nên.

Có thể phân tích nguyên nhân bệnh lý như sau :

Khí uất: chủ yếu là can khí uất trệ như sách Tế Sinh Phương, mục Anh Lựu Luận Trị viết: "Chứng Anh Lựu đa số do vui giận thất thường, ưu tư quá độ mà sinh bệnh". Triệu chứng lâm sàng thường có: bệnh nhân bứt rứt, dễ cáu gắt, lo lắng nhiều.

Đàm kết: do khí trệ lâu ngày sinh ra, triệu chứng của đàm kết là tuyến giáp sưng to mức độ khác nhau và mắt lồi.

Huyết ứ: do khí trệ đàm kết cũng gây tắc mạch, huyết ứ triệu chứng chủ yếu là đau ngực, phụ nữ tắt kinh, mạch Kết, Đại.

Hoả uất xông lên cũng do khí trệ đàm kết gây nên, triệu chứng là phiền nhiệt (nóng nảy bứt rứt, hồi hộp, mau đói, nhiều mồ hôi, mặt nóng đỏ, rêu vàng, mạch Sác.

Âm hư: do uất nhiệt lâu ngày làm tổn thương chân âm có những triệu chứng như người gầy nóng, tay run, sốt nhẹ, miệng khô, nam liệt dương, nữ thì tắt kinh, lưỡi thon đỏ, ít rêu mạch Tế Sác.

Triệu Chứng

Triệu chứng chung:

Rối loạn tuyến giáp trạng:

Gầy nhanh và toàn thể, nhất là trong những đợt tiến triển sút 2–3 kg trong tuần dù ăn nhiều.

Nhịp tim thường nhanh (Nhịp tim nhanh trên 100/phút thường xuyên là triệu chứng không thể thiếu được).

Rối loạn tuyến yên:

Lồi mắt: cả hai bên, mắt hơi lồi hoặc lồi nhiều rõ rệt. Nhìn xuống, mi mắt trên không che kín tròng trắng.

Run tay: thường run ở các đầu ngón tay và bàn tay, run đều, độ run nhẹ, run tăng khi bị xúc động, sợ hãi.

Thay đổi tính tình: dễ xúc cảm, khó ngủ, rối loạn tính tình, rối loạn kinh nguyệt.

Tuyến giáp trạng to.

Trừ một số ít bệnh nhân do chấn thương tinh thần hoặc do nhiễm khuẩn tuyến giáp nên bệnh phát đột ngột, đa số bệnh phát từ từ, lâm sàng triệu chứng nặng nhẹ rất khác nhau, có thể phân làm 4 thể bệnh: nhẹ, nặng, chứng nguy và biến chứng.

1. Chứng nhẹ: Thường là giai đoạn bệnh mới mắc, bệnh nhân thường bứt rứt, tính tình dễ nóng nảy, mệt mỏi, tim hồi hộp, đánh trống ngực, sụt cân, chất lưỡi đỏ, rêu mỏng trắng hoặc hơi vàng, mạch Huyền Tế Sác.

2. Chứng nặng: Xuất hiện các triệu chứng điển hình của bệnh, ngoài những triệu chứng chủ quan trên đây nặng hơn, thường có sốt nhẹ, nhiều mồ hôi, mau đói, ăn nhiều, nam liệt dương, nữ thì tắt kinh, sút cân nhiều hơn, mặt đỏ ửng, ngón tay run, tuyến giáp to, mắt lồi, chất lưỡi đỏ, ít rêu hoặc rêu vàng mỏng, mạch Tế Sác hoặc Kết Đại.

3. Chứng nguy: Bệnh nhân sốt cao ra nhiều mồ hôi, nôn, tiêu chảy, tinh thần hoảng hốt, nói sảng, hoặc sắc mặt tái nhợt, chân tay lạnh, tinh thần uể oải, mạch Vi Tế khó bắt, huyết áp hạ, có thể có vàng da.

4. Biến chứng: Bệnh cường tuyến giáp là một bệnh nặng, tiến triển bất ngờ, từng đợt, nếu không điều trị, bệnh dẫn đến:

Đau ngực: Đánh trống ngực hồi hộp, tức ngực, khó thở, vùng trước tim đau.

Cơ bắp yếu mềm, đi lại khó khăn do kali máu hạ.

Suy tim: báo hiệu bằng những cơn nhịp tim nhanh, kịch phát, sau đó loạn nhịp tim hoàn toàn rồi to tim toàn bộ.

Suy mòn: người gầy đét rồi chết.

Nếu được điều trị kịp thời, bệnh có thể ổn định, bịnh nhân lên cân, ngủ được, nhịp tim trở lại bình thường, kinh nguyệt đều.0eDo phong hàn thấp bên ngoài xâm nhập vào làm cho khí huyết trong kinh lạc bị bế tắc gây nên đau, cử động khó khăn. Gặp nhiều nơi những người cơ thể suy yếu, lớn tuổi.

Do dinh dưỡng không tốt làm tổn thương Tỳ Vị, Tỳ thống huyết, Tỳ suy yếu, huyết không chuyển vận được đến vùng bệnh gây nên. Thấp tà xâm nhập vào cơ thể những người Tỳ hư do ăn uống suy kém. Thấp kéo dài sẽ biến thành đờm, đờm và thấp cùng đưa lên vùng cổ, vai sẽ làm cho khí huyết bị ngăn trở gây nên đau.

Do hư yếu của tuổi già. Càng lớn tuổi, xương và các đốt ít được nuôi dưỡng hơn gây nên đau, khó cử động. Gặp nhiều trong chứng Can huyết hư, Thận âm hư.

Do chấn thương làm ảnh hưởng đến gân cơ và khớp vùng cổ gáy.

Các nguyên nhân trên, nếu không được chữa trị sẽ làm cho khí huyết bị ngừng trệ gây nên bệnh.

Chẩn Đoán

Chủ yếu căn cứ vào:

1. Triệu chứng lâm sàng: có 4 loại triệu chứng chính:

Tuyến giáp to vừa, lan toả hay có nhân.

Triệu chứng rối loạn chức năng thần kinh tinh thần: Bứt rứt dễ cáu gắt, đau đầu, mất ngủ, kém tập trung.

Rối loạn vận động như run tay, động tác không tự chủ, thân nhiệt tăng, mồ hôi ra nhiều.

Rối loạn tuần hoàn và tim mạch: tim nhịp nhanh hoặc nhịp tim không đều, có tiếng thổi, tăng huyết áp kỳ tâm thu, giảm huyết áp kỳ tâm trương.

Mắt lồi, dấu hiệu Gaeph (+).

2. Trường hợp triệu chứng lâm sàng không điển hình, thường ở trẻ em và người cao tuổi, cần làm các xét nghiệm sau để xác định chẩn đoán :

Chuyển hoá cơ bản tăng (trị số bình thường: -10 – +10%, có thể theo công thức: Chuyển hoá cb = số mạch/ph + mạch áp –111%.

(Mạch áp = huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương (tính bằng mmHg). Thí dụ: Huyết áp của ông A = 120/80 mmHg thì mạch áp của ông A = 120 - 80 = 40, và nếu mạch đập của ông A là 80 lần/phút thì chuyển hoá cơ bản = 80 + 40 - 111 = + 9%).

Cholesterol máu giảm.

Thyroxin máu cao từ 12–20mcg% (bình thường 4– 8mcg%)

Độ tập trung Iod trên 50%.

Căn cứ vào kết quả đo chuyển hoá cơ bản để đánh giá tình trạng nặng nhẹ của bệnh cường giáp thành 4 độ như sau:

Cường giáp độ I: chuyển hoá cơ bản = + 15 ± 30%, nhịp tim dưới 100 lần/phút

Cường giáp độ II: chuyển hoá cơ bản = + 30 ± 60%, nhịp tim = 100 – 120 lần/phút.

Cường giáp độ III: chuyển hoá cơ bản = trên + 60%, nhịp tim = trên 120 lần/phút.

Cường giáp độ IV: chuyển hoá cơ bản = trên + 100%, nhịp tim = trên 120 lần/phút.

(Nhịp tim phải lấy mạch lúc bệnh nhân được nghỉ ngơi đầy đủ. Bệnh độ I là bệnh nhẹ, độ II là trung bình, độ III là bệnh nặng và độ IV là rất nặng).4XnE 5pĐ;đ?

Điều Trị (Châm Cứu)

⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.

Đông Y trị chứng cường giáp lấy biện chứng luận trị làm cơ sở nhưng phân từng loại cũng có sự khác biệt.

1. Y viện Nam kinh phân thành 4 loại: Can khí uất trệ, Đờm khí giao kết, Can hoả vượng và Tâm Can âm hư.

2. Y viện Thượng Hải phân làm 3 loại: Khí trệ đờm ngưng, Can hoả cang thịnh và Tâm Can Âm hư.

3. Y viện Bắc Kinh cho rằng chứng trạng điển hình của bệnh cường giáp không xuất hiện đồng thời mà ở các giai đoạn khác nhau đều có các chứng khác nhau.

Các phương pháp phân loại của các tác giả tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng trên cơ bản đều cho rằng diễn biến của bệnh này có các quy luật sau:

Mới phát: Chủ yếu là Can uất đờm kết, chữa trị nên lý khí, hoá đờm, nhuyễn kiên, tán kết.

Thời kỳ sau: Phần âm suy, hao tổn, chữa trị nên nhu Can, tư Thận.

Cách chung (Theo Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).

Chứng nhẹ: Biểu hiện chủ yếu là thể Can khí uất kết, đàm kết sinh hoả gây nhiễu tâm nên phép trị chủ yếu là sơ Can, thanh Tâm, hoá đàm, tán kết.

Chứng nặng: Biểu hiện chủ yếu là khí uất, đàm kết, táo hoả thương âm, phép trị chủ yếu là dưỡng âm, tả hoả, hoá đàm, tán kết.

Chứng nguy: Biểu hiện chủ yếu là táo hoả cực thịnh làm suy kiệt khí âm, cần truyền dịch hồi sức cấp cứu theo tây y, khí âm được hồi phục, chuyển sang điều trị như đối với thể nặng có kết hợp thuốc tây.

ĐIỀU TRỊ BẰNG CHÂM CỨU:

Thể Châm

Thiên song, Nhu hội, Khí xá (Giáp Ất Kinh).

Cự anh, Phù đột, Thiên đột, Thiên song, Khuyết bồn, Du phủ, Trung phủ, Đản trung, Hợp cốc, Thập tuyên (chích máu) Liệt khuyết (châm trước) (Châm Cứu Đại toàn).

Huyệt chính: Nội quan, Gian sử, Thần môn, Túc tam lý, Tam âm giao, Thái khê, Phục lưu, Thái xung, Chiếu hải, Quan nguyên.

Huyệt phối hợp: Bướu giáp to thêm huyệt Khí anh (tương đương huyệt Thuỷ đột), Bình anh (đường chính giữa đốt xương sống cổ 3 – 5 ngang ra 2 bên mỗi bên 0,5 thốn). Mắt lồi thêm huyệt Thượng thiên trụ, Phong trì (Hiện Đại Nội Khoa Học).

Cách châm: Mỗi lần chọn 4 – 5 huyệt, huyệt Bình anh châm 2 bên, vê kim nhiều, bổ tả kết hợp. Lưu kim 30 phút, châm cách nhật, một liệu trình 3 tháng.

Có thể kết hợp điện châm.

Châm huyệt Thượng thiên trụ, Phong trì, Đồng tử liêu, Toàn trúc và Hiệp cốc.

Cách châm: huyệt Thượng thiên trụ và Phong trì châm mũi kim hướng về phía đầu mũi, sâu không quá 1,2 thốn, theo phương pháp vê kim đề tháp. Huyệt vùng mặt châm luồn kim dưới da. Châm huyệt Hợp cốc, mũi kim hướng về phía cổ tay. Lưu kim 30 phút, cứ 10 phút lại vê kim 1 lần. Kết quả đạt 67,6 – 90% (Ngô Trạch Lâm, Giang Tô Trung Y Tạp Chí 1986 : 1, 28).

Liêu Phương Chính trong Thành Đô Trung Y Học Viện Học Báo số (1) .23/1987 dùng phương pháp cứu chữa 30 trường hợp cường tuyến giáp:

Huyệt chính: Đại trữ, Phong môn, Phế du, Du phủ, Đại chuỳ, Thân trụ, Phong trì.

Phương pháp: 30 người bệnh chia ra làm 3 nhóm:

Cứu ngoài da.

Cứu + châm.

Cứu sâu.

Có người bệnh phối hợp dùng ôn châm.

Kết quả: Khỏi : 4 , khá 15, kém 11.

Ngô Trạch Sinh trong Trung Quốc Châm Cứu số (1).14/1985 báo cáo trị 45 trường hợp Bướu cổ lồi mắt bằng huyệt kinh nghiệm: Thượng thiên trụ, Phong trì. Để đạt được kết quả, phân theo loại chứng gia giảm :

1. Khí âm đều hư: ích khí dưỡng âm làm chính. Huyệt chính : Nội quan, Túc tam lý, Tam âm giao, Phục lưu. Phối hợp với huyệt Thái dương, Ty trúc không .

2. Âm hư hoả vượng: Tư âm thanh hoả là chính. Huyệt chính: Gian sử, Thái xung, Thái khê. Phối hợp với huyệt Thái dương, Toàn trúc.

Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy: chứng bướu cổ lồi mắt, theo biện chứng YHCT thuộc chứng Âm hư hoả vượng."

Nhĩ châm:

Thường chọn các huyệt chính: Nội tiết, Tuyến giáp, Giao cảm, Thần môn, Dưới vỏ não.

Huyệt phụ: Tâm, Phế.

Mỗi lần chọn 2 – 3 huyệt. Dùng gài kim nhỏ hoặc nhĩ hoàn dán băng dính lưu kim một tuần, mỗi ngày kích thích kim 2 – 3 lần.

Mai Hoa Châm:

Dùng kim mai hoa gõ vùng tuyến giáp và 2 bên cột sống dọc theo đường kinh Bàng quang. Gõ cường độ vừa đạt bệnh nhân có cảm giác dễ chịu, mỗi lần gõ 15 – 30 phút. Một liệu trình 30 lần, gõ hàng ngày hoặc cách ngày..

Thuỷ Châm:

Huyệt dùng: Thượng thiên trụ ( trên huyệt Thiên trụ 0,5 thốn). Châm sâu 1 – 1,5 thốn, mũi kim hướng về phía mắt. Cách một ngày thuỷ châm một lần, 10 lần là một liệu trình. Kết quả đạt 83,6%. Tác giả giải thích: huyệt Thượng thiên trụ thuộc về đường kinh túc thái dương Bàng quang, bên trong có huyệt Phong phủ, bên ngoài có huyệt Phong trì, là nơi phong khí tụ lại, mà kinh dương tụ hợp tại đầu. Vì vậy dùng huyệt Thượng thiên trụ để vận chuyển nhãn cầu, có tác dụng thanh tức phong dương, thông khiếu, minh mục, tiêu ứ, tán kết (Chu Đức Bảo, Trung Quốc Châm Cứu 1987 : 3, 7).

Điện Châm:

Vương Minh Uyên trong Trung y Tạp Chí số (2). 43/1985 dùng xung điện trị 48 trường hợp cường giáp :

Huyệt chính: 2 bên phía ngoài tuyến giáp, kích thích mạnh.

Huyệt phụ: 2 bên vòng tuyến giáp phình ra, 2 bên huyệt Thái dương , kích thích mạnh. Nội quan, Thần môn kích thích vừa... có tác dụng làm kích thích tố giảm, thậm chí trở lại bình thường.l Spondylosis.Gặp ở lứa tuổi trên 50 (25–50%), trên 75 tuổi (75%), chứng viêm tuỷ xám chỉ chiếm 5–10%.

Dựa theo triệu chứng lâm sàng, Đông y xếp bệnh này vào loại Tý Chứng, Nuy Chứng, Đầu Thống, Cảnh Cường, Cảnh Cường Thống, Huyễn Vựng, Cảnh Cân Cơ Bệnh.YMột số thầy thuốc châm cứu ở Trung Quốc chỉ dùng huyệt Âm cốc hoặc Thừa sơn hạ (dưới huyệt Thừa sơn 2 thốn) để trị Thoái hoá đốt sống cổ có kết quả.

Tham Khảo

Châm có thể làm cho thần kinh giao cảm ở cổ bớt khẩn trương, ức chế sự phân tiết của tuyến giáp làm nhãn cầu bớt ứ huyết và mắt bớt lồi.

Châm Liêm tuyền, Nhân nghênh, Thuỷ đột, Thiên đột, Thiên trụ, Phong trì, Đại chuỳ, Đại trử.

Nếu lồi mắt châm thêm Tứ bạch, Đồng tử liêu.

Mạch quá nhanh châm Nội quan hoặc ấn từ từ và nhẹ ở vùng xoang động mạch cảnh (huyệt Thuỷ đột) và hai nhãn cầu khoảng 30 giây đến một phút.

Châm có thể đề phòng hiện tượng tim đập nhanh quá trong và sau khi mổ Bazedow. Năm phút trước khi mổ, châm Nội quan (chủ yếu), Thần môn, Túc tam lý, Tam âm giao cả hai bên. Lưu kim suốt 10 giờ. Trong lúc mổ, cứ 15 phút vê nhẹ một lần. Sau khi mổ, cứ 2 giờ vê nhẹ một lần. Kết quả rất tốt.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Châm Cứu Trị Bệnh

Về danh mục Châm Cứu Trị Bệnh