🌿 Kinh Lạc Trương Gia

Vẩy Nến Châm Cứu Trị Bệnh

Vẩy Nến (Tên Khác: Psosiaris.). Vảy nến là một bệnh khá phổ biến sau eczema, theo tài liệu nhiều tác giả nước ngoài trong nội trú chiếm 4–8% và ngoại trú 2–7% so với tổng số bệnh ngoài da đến khám và…

Đại Cương

Vảy nến là một bệnh khá phổ biến sau eczema, theo tài liệu nhiều tác giả nước ngoài trong nội trú chiếm 4–8% và ngoại trú 2–7% so với tổng số bệnh ngoài da đến khám và điều trị. Ở khoa da liễu Viện Quân y 108 từ 1966 đến 1973, Vảy nến chiếm 6,1% trong nội trú và 1,5% ở ngoại trú. Bệnh ít gây ảnh hường đến sức khoẻ chung (trừ một số thể nặng) nhưng là bệnh dai dẳng hay tái phát nên ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, lao động và tâm trí người bệnh.

Bệnh thường phát về mùa Đông, ở da đầu và mặt ngoài tứ chi, nặng thì có thể phát ra toàn thân, có thể kèm theo sưng đau các khớp tay chân.

Còn gọi là Ngân tiêu bệnh, Tùng bì tiễn, Bạch chuỷ, Chuỷ phong, Bạch xác sang, Tùng hoa tiễn.

Nguyên Nhân

Do ngoại tà khách ở bì phu: Lục dâm (phong, hàn, nhiệt, thấp, thử, táo) xâm nhập vào phần cơ, phu làm cho khí của Phế vệ không được tuyên thông, làm cho kinh lạc bị ngăn trở, ứ đọng lại ở da (phu tấu), không nuôi dưỡng được da gây nên. Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận viết: "Tấu lý hư yếu, phong và khí xâm nhập vào, huyết ứ lại không nuôi dưỡng được cơ nhục gây nên bệnh".

Do tình chí nội thương: Thất tình bị ức chế, uất kết lâu ngày hoá thành hoả, hoả nhiệt hoá thành độc tà vào phần doanh huyết, bên ngoài ảnh hưởng đến phu tấu (da), lỗ chân lông bị bít lại không thông, khí trệ huyết ứ gây nên bệnh.

Do trúng độc: Ăn nhiều thức ăn cay, nóng, tanh, tươi sống, trứng... khiến cho phong bị động, Tỳ Vị không điều hoà, khí trệ không thông, thấp nhiều cùng kết lại, thấm vào tấu lý, gặp phải hàn thấp, khí huyết tương bác nhau gây nên bệnh.

Do mạch Xung và Nhâm không điều hoà: Mạch Xung và Nhâm liên hệ với tạng Can và Thận, vì vậy kinh nguyệt và sinh dục là yếu tố làm cho mạch Xung và Nhâm không điều hoà, khiến cho âm dương của Can Thận thiên lệch gây nên, biểu hiện bằng âm hư nội nhiệt hoặc do dương hư ngoại hàn, lâu ngày làm cho âm dương đều hư hoặc chân hàn giả nhiệt hoặc chân nhiệt giả hàn.

Tóm lại, bệnh chủ yếu do rối loạn ở phần huyết: huyết nhiệt, huyết táo, huyết ứ. Bệnh lâu ngày làm cho tạng phủ bị ảnh hưởng theo, trong đó chú ý đến Can Thận.

Triệu Chứng

Hồng ban giới hạn rõ rệt, có vẩy trắng như nến, có thể gây ra thành từng lớp như mica, có khi nổi dát đỏ như giọt nước, có khi to, tròn hoặc bầu dục, đường kính 2,5cm, có khi thành mảng rộng do nhiều dát kết hợp lại.

Vị trí đặc hiệu: Vùng da bị tỳ, cọ nhiều như khuỷu tay, đầu gối, mông, xương cùng, vùng mấu chuyển lớn.

Lúc đầu từng lớp vẩy bong ra như nến rồi đến màng bong là một màng rất mỏng. Khi màng đó đã được nạo đi sẽ thấy rướm máu lấm tấm, có lẫn cả tiết dịch trong giống như những giọt sương li ti, vì vậy còn được gọi là hiện tượng sương máu (phénomène de la rosée sanglante), có giá trị rất lớn để chẩn đoán.

Có trường hợp vẩy nến khu trú ở da đầu, ăn xuống rìa tóc hoặc ở lòng bàn tay, bàn chân, có khi lan ra toàn thân. Móng tay chân có thể dày, sần sùi, móng có vạch ngang, dễ gãy dưới móng có chứa bột trắng. Nhiều trường hợp vẩy nến nổi ngay trên các vết sẹo, vết sượt da, vết mổ, vết tiêm. Bệnh gây ngứa ít nhiều tuỳ từng theo từng người, tiến triển từng đợt, lúc ổn định, lúc vượng, có lúc tự nhiên khỏi. Thường hay tái phát theo mùa, có người nặng về mùa hè, có người nặng về mùa đông. Bệnh lâu ngày tính chất mùa không còn rõ rệt. Một số ít phụ nữ lúc mang thai bệnh nhẹ hoặc hết, sau sanh, da lại bị tổn thương hoặc nặng hơn.

1. Thể đỏ da: do bệnh phát triển, da toàn thân đỏ, sưng, tróc vảy, kèm phát sốt, các khớp đau, lòng bàn chân sừng hoá, móng dày lên và rụng.

2. Thể khớp: thường vẩy nến tăng lan đến các khớp lớn nhỏ như khớp ngón, khớp cổ tay, cổ chân, khớp gối, nhẹ là khớp sưng, nặng thì dịch bao khớp xương huỷ hoại, khớp dị dạng.

3. Thể mụn mủ: tế bào gai bị tổn thương rõ, trên tổn thương vẩy nến mọc lên những mụn mủ không có vi khuẩn, gặp nhiều ở người lớn tuổi.

Điều Trị (Châm Cứu)

⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.

BIỆN CHỨNG THEO YHCT

Thể phong nhiệt: Những nốt chấm xuất hiện nhiều, liên tục, lâu ngày to dần, mầu trắng đục, ngứa nhiều, mọc ở tay chân hoặc ở đầu, mặt, râu, gây hoại tử da sau đó có chấm xuất huyết. Kèm ngứa, sốt, khát, họng khô, đau, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng, mạch Phù Sác.

ĐIỀU TRỊ: Thanh nhiệt, lương huyết.

Thể phong huyết táo (gặp ở thể bệnh kéo dài): Nhiều nốt ban chẩn mới ít xuất hiện, những nốt cũ mầu hơi đỏ, ngứa, mặt da khô, lưỡi ít tân dịch, rêu lưỡi hơi vàng mà khô, mạch Huyền Tế hoặc Tế Sác.

ĐIỀU TRỊ: Dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong.

Thể phong hàn: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như đồng tiền hoặc từng mảng mầu hồng, trên mặt mụn có thể thối nát, phát bệnh quanh năm. Từ mùa đông đến mùa hè thường tự bớt hoặc giảm ẩn đi, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Phù Khẩn.

ĐIỀU TRỊ: Sơ phong, tán hàn, hoạt huyết, điều doanh.

Thể thấp nhiệt: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như nước trong lỗ rỉ ra, xuất hiện ở bên dưới bầu vú, vùng hội âm, khuỷu tay, hố mắt, vùng sinh dục, mầu da có mầu hồng xám, thường gom lại thành mảng lớn, vùng tổn thương chảy nước mầu trắng đục, hơi ngứa, miệng khô, không khát, cơ thể nóng, mệt mỏi, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi vàng hoặc có ngấn bệu, mạch Hoạt Sác.

ĐIỀU TRỊ: Thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết giải độc.

Thể huyết nhiệt: Mới phát hoặc tái phát không lâu, vết sần nổi lên như dạng đồng tiền hoặc như bùn, thường nổi hạt nhỏ như ban chẩn, to nhỏ không đều, mầu hồng tươi, mọc nhiều ở tứ chi, có thể mọc ở vùng đầu và mặt trước, bề mặt của vết sần có mầu trắng đục, khô, vỡ nát có khi có rướm máu, kèm ngứa, tâm phiền, khát, táo bón, tiểu ít, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng, mạch Huyền Hoạt hoặc Hoạt Sác.

ĐIỀU TRỊ: Lương huyết giải độc, hoạt huyết thoái ban.

Thể huyết ứ: Vết ban mầu đỏ tối hoặc tím, to nhỏ không đều, bề mặt hơi lõm, khô trắng đục, không bong da, có một ít vết ban nhỏ mới xuất hiện kèm theo ngứa hoặc không ngứa, miệng khô, không muốn uống, lưỡi đỏ tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng nhạt hoặc hơi vàng, mạch Huyền Sáp hoặc Trầm Sáp.

ĐIỀU TRỊ: Hoạt huyết hoá ứ, thông lạc tán kết.

Thể huyết hư: Cơ thể vốn suy yếu, bệnh kéo dài lâu ngày, da chuyển sang trắng bệch, nhiều vết ban có dạng giống như từng mảng hoặc phát ra toàn thân, mầu hồng nhạt ướt hoặc nhạt tối, bong da có những vết ban mới xuất hiện, ngứa, nặng hoặc nhẹ mầu da cũng không thay đổi, kèm chóng mặt, ít ngủ, ăn uống kém, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, ít tân dịch, mạch Huyền Tế hoặc Trầm Tế.

ĐIỀU TRỊ: Dưỡng huyết, hoà doanh, ích khí khứ phong.

Mạch Xung Nhâm không điều hoà: Da nổi nhiều nốt sẩn đặc biệt vào thời kỳ kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, đa số trước khi có kinh, đang có thai và trước khi sinh thì phát nặng hơn, có một ít sau khi có kinh và sau khi sinh mới phát. Toàn thân nổi lên những vết ban mọc thành đám, mầu đỏ tươi sau đó trở thành trắng đục, lúc mới phát có những vết xuất huyết. Toàn thân hơi ngứa, tâm phiền, miệng khô, đầu váng, lưng đau, lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Hoạt Sác hoặc Trầm Tế.

ĐIỀU TRỊ: Điều nhiếp Xung Nhâm.

Nhiệt độc thương doanh: Phát bệnh nhanh, toàn thân đều nổi ban đỏ, đỏ tím, đỏ sẫm, nóng, ấn vào thì nhạt mầu, sưng phù, bong da, toàn thân sốt cao, sợ lạnh, tâm phiền, khát, tinh thần uể oải, tay chân không có sức, lưỡi đỏ sẫm, ít tân dịch, mạch Huyền Sác hoặc Hoạt Sác.

CHÂM CỨU

Khúc trì, Huyết hải, Túc tam lý, Nội quan, Thần môn, Tam âm giao, Phi dương. Ngày châm một lần, 15 ngày là một liệu trình (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Những huyệt thường được chọn để điều trị bệnh vẩy nến là: Tỳ du, Phế du, Cách du, Huyết hải, Túc tam lý, Tam âm giao, Uỷ trung, Hợp cốc.

(Tỳ du là du huyệt của tạng Tỳ, mà Tỳ làm chủ tứ chi là những vùng thường bị vẩy nến. Tỳ du có chức năng thúc đẩy sự tuần hoàn của khí huyết làm biến đổi sự khô ráo thành ẩm ướt. Phế du là du huyệt của tạng Phế, mà Phế chủ bì mao và có thể thanh nhiệt, khư phong. Cách du là huyệt hội của huyết. Huyết hải và Tam âm giao là những huyệt hoà huyết. Châm ba huyệt trên có thể thúc đẩy sự tuần hoàn và trừ đờm (thông kinh khư đờm). Uỷ trung là huyệt hợp của kinh Bàng quang. Châm huyệt này có thể thanh nhiệt tà trong tuần hoàn. Túc tam lý có thể tăng cường Vị khí và điều hoà Tỳ vị (ích khí hoà trung). Dương lăng tuyền là huyệt hợp của kinh đởm và có thể làm thông kinh và thải trừ thấp nhiệt (thông kinh, thanh nhiệt, trừ thấp). Châm Phong thị để trừ phong tà và thải nhiệt. Vì thế có thể làm giảm ngứa (khư phong, thanh nhiệt, chỉ dưỡng. Khi châm Khúc trì và Hợp cốc có thể khư biểu tà. Tất cả các huyệt kể trên có tác dụng như sau: thanh nhiệt, lương huyết, bổ khí huyết, nhuận táo, hành khí hoạt huyết, trục ứ, khư phong tà. Châm những huyệt này rất hữu dụng cho điều trị) (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Huyết hư phong táo: 1- Cách du, Đởm du. 2- Phong môn, Cách du, Đởm du 3- Phế du, Đởm du, Tỳ du. Dùng Bổ pháp.

Huyết nhiệt phong táo: 1- Cách du, Thận du. 2- Phong môn, Can du, Thận du. 3- Tâm du, Can du, Thận du, dùng phép Tả. Hai ngày châm một lần.

Vùng đầu mặt bệnh thêm Hợp cốc, Khúc trì, Chi câu, Khúc trì; Bệnh vùng Thận, bộ sinh dục thêm Tam âm giao, Huyết hải, Âm lăng tuyền. Da bị tổn thương rồi phát ra toàn thân thêm Đại chùy, Khúc trì, Huyết hải, Tam âm giao. Cấp tính châm tả, mạn tính châm bổ. Hai ngày một lần (Bì phu bệnh trung y chẩn liệu học).

Đào đạo xuyên Thân trụ, Huyết hải, Túc tam lý, Khúc trì, lưu kim 30 phút, 2 ngày một lần (Bì phu bệnh trung y chẩn liệu học).

Những huyệt chủ yếu là Tỳ du, Phế du, Cách du. Dựa theo vị trí thương tổn, những huyệt khác dọc theo đường đi của đường kinh có liên quan có thể được sử dụng. Thí dụ: Vùng thắt lưng và mặt sau cổ chọn huyệt Ủy trung; Ở mặt chọn Hợp cốc; Vùng nách và hông sườn chọn Dương lăng tuyền; Ngực và bụng chọn Túc tam lý và Nội quan.

Các huyệt phối hợp cũng có thể được chọn ngoài đường đi của các đường kinh, như: Vùng đầu thêm Bá hội; Vùng chi trên thêm Khúc trì và Ngoại quan; Chi dưới thêm Huyết hải và Phong thị.

Cách châm: Châm một trong ba huyệt chủ yếu, luân phiên nhau trong mỗi lần điều trị cho đến khi chảy máu bằng cách véo da lên. Sau khi châm ra máu khoảng 10 – 15 phút, dùng phép giác thêm. Châm ra máu không nên sâu. Giác có thể gây chảy máu từ lỗ châm ở da.

Châm ra máu và giác một lần tương ứng ở mỗi bên cột sống. Trong suốt thời gian giác nên cố gắng tránh gây bỏng. Không châm ra máu cùng một lỗ châm khi châm những lúc khác nhau. Nếu huyệt nằm ở vùng da thương tổn, nên chọn những huyệt khác.

Ngày châm một lần. Sáu lần là một liệu trình. Nghỉ 2 ngày rồi tiếp tục liệu trình khác (Châm cứu lâm chứng thực nghiệm).

Châm quanh hỗ bị bệnh và Hợp cốc, Liệt khuyết, Ngoại quan, Túc lâm khấp, Côn lôn, Trật biên. Mỗi lần châm 1–2 huyệt, chú trọng vào vùng mọc nhiều nhất. Cứu quanh chỗ đau và trên chỗ đau bằng hơ nóng hoặc cứu sáp (Châm cứu thực hành).

PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU DƯỠNG

1 Chú ý loại trừ yếu tố nghi ngờ là nguyên nhân gây bệnh.

2. Nếu là bệnh mạn tính, chú ý tinh thần thoải mái, tránh mọi kích cảm có thể xảy ra.

3. Tránh dùng các loại thuốc có tính kích thích mạnh trong thời gian bệnh phát triển.

4. Tránh uống rượu, các loại nước ngọt, trà đậm, cà phê thuốc lá, không ăn các chất cay nóng, mỡ heo, hạn chế ăn các loại chiên xào.

Huyệt Vị Nhắc Trong Bài (16)

Bệnh Khác Trong Châm Cứu Trị Bệnh

Về danh mục Châm Cứu Trị Bệnh