Mạch Nhâm CV
Mạch Nhâm (mã CV). Có tất cả 24 huyệt nằm dọc theo tuyến giữa bụng – ngực, lên đến cằm. Quản lý các kinh Âm. Giao hội với: Kinh Thái âm Tỳ ở huyệt Trung quản (Nh 12). Kinh Quyết âm Can ở huyệt Ngọc đường (Nh 18).
Đặc Tính
Quản lý các kinh Âm.
Giao hội với:
Kinh Thái âm Tỳ ở huyệt Trung quản (Nh 12).
Kinh Quyết âm Can ở huyệt Ngọc đường (Nh 18).
Kinh Thiếu âm Thận ở huyệt Liêm tuyền (Nh 23).
Nhâm mạch nhận khí của:
Can ở huyệt Khúc cốt (Nh 2).
3 kinh Âm ở chân (Can, Tỳ, Thận) ở huyệt Trung cực (Nh 3) và Quan nguyên (Nh 4).
Thận và mạch Xung ở huyệt Âm giao (Nh 7).
Tỳ ở huyệt Hạ quản (Nh 10).
Tất cả các lạc mạch ở huyệt Chiên trung (Nh 17).
Mạch Âm duy ở huyệt Thiên đột (Nh 22) và Liêm tuyền (Nh 23).
Nhâm mạch lạc với:
Phía trên: Vùng mặt với mạch Đốc ở huyệt Ngân giao (Đc 28), ở mắt, qua trung gian của kinh Vị (Dương minh) ở h. Thừa khấp (Vi 1).
Phía dưới: Vùng Hội âm với mạch Đốc ở huyệt Trường cường (Đc 1)
Vận Hành
Khởi đầu từ hố chậu, nhô ra tại Hội âm, đi lên, qua lông mu theo đường giữa bụng lên ngực, họng, đến cằm ở h. Thừa tương (Nh 24).
Từ huyệt Thừa tương mạch chạy quanh vùng miệng môi, hợp với mạch Đốc ở h. Ngân giao (MĐ 28).
Chia làm 2 nhánh (phải và trái), lên mặt ở h. Thừa khấp (Vi 1) và nhập vào mắt.
Đường mạch ở bụng xuất phát ở huyệt Cưu vĩ (Nh 15) và đi vào trong bụng.
Triệu Chứng / Chủ Trị
Da bụng đau (thực), da bụng ngứa (hư) (Linh khu 10).
Lưng đau, toát mồ hôi, khi mồ hôi khô thì thoát nước, lúc uống nước rồi thì muốn chạy (Thích yêu thống – Tố vấn 41).
Nam bị sán khí, nữ bị đái hạ, tích tụ (Cốt không luận – Tố vấn 60).
Nam bị thất sán (7 loại sán khí), nữ bị hà tụ (trưng hà, tích tụ) (Nan kinh 29).
Trong bụng có khí tụ như ngón tay đau xông lên tim không thể cúi ngửa gì được (Mạch kinh, Q. 2).
Thoái vị, bạch đới, ho, khó thở, bệnh ở hệ tiết niệu, sinh dục (Trung Quốc châm cứu học khái yếu).
Trĩ, tiêu chảy, kiết sốt rét, ho, nôn ra máu, thiếu máu, răng đau, họng sưng, tiểu không thông, ngực và vùng thượng vị đau, ngăn nghẹn, sinh xong bị trúng phong, lưng đau, thai chết không xổ ra, lạnh ở vùng bụng rốn, nôn mửa, nấc, vú đau, băng lậu, băng huyết (Châm cứu học Thượng Hải).
Thoái vị, đới hạ (khí hư), bụng có khối u, không sinh đẻ được, bệnh ở hệ tiết niệu, sinh dục, dạ dầy, họng, thanh quản (Châm cứu học Việt Nam)
Điều Trị
⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.
Châm huyệt Cưu vĩ (Nh 15) theo Linh khu 10.
Châm thích trên mạch Trực dương 3 nốt, mạch này tại trên Kiểu dưới Khích 5 thốn, nó nằm ngang. Thấy mạch đó thịnh phải để cho xuất huyết (Tố vấn 41).
Châm và cứu huyệt Thừa tương (Nh 24) theo Châm cứu đại thành.
Cách chung châm huyệt Liệt khuyết (Ph.7) là huyệt giao hội với Nhâm mạch.
Sách Pathogéni Et Pathologie En Ergetiques En Medecines Chinoise triển khai về Nhâm mạch như sau:
1. Tà khí ở các nhánh phụ
Nhánh phụ ở mặt trước qua kinh Dương minh
TRIỆU CHỨNG: Môi và lợi sưng đau, nói khó, cơ mặt co giật, liệt mặt, chảy nước mắt, mi mắt giật.
ĐIỀU TRỊ: châm huyệt Hội của mach Nhâm và kinh Dương minh: huyệt Thừa tương (Nh 24), Thừa khấp (Vi 1), Hòa liêu (Đtr 19), Nghênh hương (Đtr 20) và các A Thị Huyệt.
2. Tà khí ở lạc mạch ở bụng
TRIỆU CHỨNG: da bụng đau (Thực chứng), ngứa (Hư chứng).
ĐIỀU TRỊ: bổ hoặc tả huyệt Cưu vĩ (Nh 15).
3. Tà khí ở 3 kinh âm
Theo thiên Căn kết (Linh khu 5, 28-30):
Túc Thái âm lấy ‘kết’ ở huyệt Thái thương (Trung quản – Nh.12).
Túc Thiếu âm lấy “kết’ ở huyệt Liêm tuyền (Nh 23).
Túc Quyết âm lấy ‘kết’ ở huyệt Ngọc anh (Ngọc đường – Nh.18).
Cũng theo Linh khu thì:
Thái âm là phần phù (nổi) nhất của 3 kinh âm, khai ở biểu bì.
Thiếu âm: phần sâu nhất, khai ở phần lý.
Quyết âm: phần giữa, đóng vai trò ‘kết’ cho Thái âm và Thiếu âm.
3. Nhâm mạch và Kinh Can
Trong số 3 kinh âm ở chân thì kinh Can rất quan trọng vì đường vận hành ở bụng của nó hội với Nhâm mạch ở bụng dưới.
Sự liên hệ này biểu lộ rõ nhất là đối với các bệnh ở bụng dưới, sinh dục.
Thí dụ:
Tà khí uất trệ ở kinh Can gây ra chứng Sán khí.
Can Thận hư gây ra bệnh Đới hạ.
Âm tà kết tụ gây ra bệnh Trưng hà, U nang buồng trứng, Ung thư tử cung, Ung thư tiền liệt tuyến....
Các bệnh này chủ yếu do hàn, nhiệt, thấp xâm nhập trước hết vào 3 kinh Âm ở chân rồi vào Nhâm mạch qua huyệt Khúc cốt (Nh 2), Trung cực (Nh 3) và Quan nguyên (Nh 4) để xâm nhập vào cơ quan sinh dục. Vì vậy, bệnh chứng ở bộ phận sinh dục phải điều trị ở 3 kinh âm ở chân.
4. Nhâm mạch Và Vệ Khí
Vệ khí vận hành ở bên ngoài mạch còn Doanh khí vận hành ở trong mạch (Linh khu 18,4). Khi tà khí xâm nhập vào cơ thể thì Vệ khí của cơ thể sẽ chống lại với tà khí và gây nên trướng, sưng phù ở da (Linh khu 35, 37-43). Khi điều trị phải châm vào ‘Khí huyệt’ và vùng nhục hoang, tức là châm vào huyệt Mộ của Vị với Tiểu trường và 2 huyệt của khí: Trung quản (Nh 12 – Mộ của Vị), Quan nguyên (Nh 4 – Mộ của Tiểu trường), Thượng quản (Nh 13) và Hạ quản (Nh 10).
Công thức này cho thấy:
Nhâm mạch đóng vai trò duy trì sự quân bình Doanh khí, Vệ khí và Tân dịch vì:
Trung quản là Mộ huyệt của Vị.
Thượng quản là huyệt Hợp của Biểu ở Vị, nơi Doanh khí và Vệ khí hội ở ngực.
Hạ quản là huyệt Hợp ở Lý của Vị, nơi Vệ khí và tân dịch hội ở Thận.
Nhâm mạch vừa tiếp nhận khí của 3 kinh Âm vừa nhận khí của phủ nữa (Linh khu 19,20)
Các Huyệt Trên Mạch Nhâm
- Hội Âm CV1
- Khúc Cốt CV2
- Trung Cực CV3
- Quan Nguyên CV4
- Thạch Môn CV5
- Khí Hải CV6
- Âm Giao CV7
- Thần Khuyết CV8
- Thủy Phân CV9
- Hạ Quản CV10
- Kiến Lý CV11
- Trung quản CV12
- Thượng Quản CV13
- Cự Khuyết CV14
- Cưu Vĩ CV15
- Trung Đình CV16
- Chiên trung CV17
- Ngọc Đường CV18
- Tử Cung CV19
- Hoa cái CV20
- Tuyền Cơ CV21
- Thiên Đột CV22
- Liêm Tuyền CV23
- Thừa Tương CV24