Huyệt Thính Hội (GB2) Kinh Túc Thiếu Dương Đởm · GB2
Huyệt Thính Hội (GB2) thuộc Kinh Túc Thiếu Dương Đởm. Vị trí: Phía trước rãnh bình tai, ở chỗ lõm khi há miệng, bờ sau tuyến mang tai, dưới huyệt Thính Cung (Ttr. Chủ trị: Trị tai ù, điếc, tai giữa viêm, liệt mặt, khớp hàm dưới viêm.
Ý Nghĩa Tên Huyệt
Thính = nghe. Hội = tụ lại.
Huyệt ở phía trước tai, có tác dụng trị tai nghe không rõ, làm cho âm thanh tụ lại để nghe cho rõ, vì vậy gọi là Thính Hội (Trung Y Cương Mục)
Đặc Tính
Huyệt thứ 2 của kinh Đởm.
Vị Trí
Phía trước rãnh bình tai, ở chỗ lõm khi há miệng, bờ sau tuyến mang tai, dưới huyệt Thính Cung (Ttr.
Giải Phẫu
Dưới da là bờ sau tuyến mang tai, bờ dưới mỏm tiếp xương thái dương, sau lồi cầu xương hàm dưới.
Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Hàn nhiệt không ra mồ hôi, trong ngực đầy tức, nóng nảy, chọn huyệt Thiên Liêu làm chủ” (Giáp Ất Kinh)
Tác Dụng
Thanh tiết thấp hỏa của Can Đởm, khai nhĩ khiếu.
Chủ Trị
Trị tai ù, điếc, tai giữa viêm, liệt mặt, khớp hàm dưới viêm.
Cách Châm Cứu
⚠️ Thủ thuật châm/cứu phải do người có chuyên môn thực hiện; thông tin liều lượng dưới đây chỉ để tra cứu học thuật, không tự áp dụng.
Hơi há miệng, châm thẳng, mũi kim hơi hướng xuống dưới, sâu 0,5 – 1 thốn. Ôn cứu 3 – 5 phút.
Xuất Xứ
Giáp Ất Kinh.
Phối Huyệt
Phối Thính Cung (Ttr.19) trị tai kêu, ù (Tư Sinh Kinh).
2. Phối Ế Phong (Ttu 17) trị tai điếc do khí bế (Châm Cứu Tụ Anh).
3. Phối Ế Phong (Ttu 17) trị tai lãng (Châm Cứu Đại Thành).
4. Phối Ế Phong (Ttu 17) + Thận Du (Bq 23) + Quan Nguyên (Nh 4) + Phong Trì (Đ.20) + Hợp Cốc (Đtr.4) trị bị điếc đột ngột (Trung Hoa Châm Cứu Học).
5. Phối Giáp Xa (Vi 6) + Đại Nghênh (Vi 5) + Ế Phong (Ttu 17) + Thiên Song (Ttr.16) trị dây thần kinh tam thoa đau (Tân Châm Cứu Học).
6. Phối Ế Phong (Ttu 17) + Hợp Cốc (Đtr.4) trị tai giữa viêm, tai chảy mủ (Châm Cứu Học Thượng Hải).
7. Phối Thính Hội (Đ.2) + Ế Phong (Ttu 17) + Hội Tông trị điếc, tai ù (Châm Cứu Học Thượng Hải)
Tham Khảo
Tai điếc, má sưng: Thính Hội đặc hiệu” (Ngọc Long Ca).
“Tai bế Thính Hội chớ nên chậm” (Thắng Ngọc Ca).
“Tai bế ắt Thính Hội mà trị vậy” (Thông Huyền Chỉ Yếu Phú).
“Tai điếc, khí bế giữ Thính Hội” (Linh Quang Phú).
“Tai điếc, khí bỉ: Thính Hội châm, tả huyệt Nghênh Hương (Đtr.20) hiệu như thần” (Tịch Hoằng Phú).
Khi bị thương hàn 2 tai điếc: Kim Môn (Bq 63), Thính Hội nhanh như gió” (Tịch Hoằng Phú).( !